Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Dục - Gia Đình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Dục - Gia Đình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

ĐẠO HIẾU DƯỚI CÁI NHÌN MỘT KITÔ HỮU

Trần Mỹ Duyệt 


Một số bạn hữu của tôi thường phản ảnh suy tư của họ về quan niệm và cách thực hành đạo hiếu của người Công Giáo. Đại khái những ý kiến ấy cho rằng Kitô Giáo không cho thờ cúng tổ tiên, và như vậy cũng đồng nghĩa với việc không giữ đạo hiếu, không hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Những gì được trình bày sau đây không mang tính cách đại diện cho nền tu đức và thần học về đức hiếu thảo Kitô Giáo, nhưng chỉ là một góc nhìn mang tính cách cá nhân với hy vọng trả lời phần nào những gì mà các bạn hữu này, cũng như ai đó đang muốn biết người Công Giáo suy nghĩ và hành động thế nào để giữ đạo hiếu của mình.


Trong 10 Giới Răn Thiên Chúa đã truyền cho Mai Sen có một giới răn trực tiếp nói về bổn phận và trách nhiệm con cái đối với cha mẹ. Đó là Giới Răn Thứ Bốn, còn được gọi là giới răn hiếu thảo: “Thứ bốn thảo kính cha mẹ.” Những ai mang danh Kitô hữu đều phải biết, hiểu, và thực hành giới răn này.

TỪ NIỀM TIN TÔN GIÁO

Để hiểu phần nào ý nghĩa của Giới Răn Thứ Bốn, cũng cần phải hiểu rằng đối với các Kitô hữu lời của Thiên Chúa là “lời hằng sống”, “lời ban sự sống đời đời” như Phêrô đã tuyên xưng khi Ông được Chúa Giêsu hỏi liệu Ông có bỏ Ngài khi một số môn đệ lúc bấy giờ đã có hành động bỏ Ngài vì bất đồng với lời giảng dậy của Ngài: “Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng tôi theo ai? Thầy có lời ban sự sống đời đời” (Gioan 6:68).

Do đó, mệnh lệnh hay giới răn “thảo kính cha mẹ” không chỉ nói về một lối sống thực hành theo cái nhìn luân lý, đạo đức xã hội, hoặc như một truyền thống văn hóa xã hội. Lời Chúa, dưới ánh sáng mặc khải không những soi sáng tư tưởng, hướng dẫn hành động con người theo chiều hướng tự nhiên, mà còn mang giá trị quyết định cho số phận đời đời nữa. Hiểu như vậy, ta mới thấy rằng nếu một người con không thảo kính cha mẹ, thì người đó không phải là một Kitô hữu đúng nghĩa. Lý do, vì người ấy đã không giữ luật Thiên Chúa. 

Chúng ta có thể tìm hiểu thêm về giới luật này dựa vào những lời mặc khải trong Thánh Kinh. Khởi đi từ Cựu Ước, Thiên Chúa đã mặc khải cho các tác giả để ghi lại thành lời những chân lý này và truyền lại cho các thế hệ để hiểu rằng chính Ngài đã ghi khắc giới luật ấy trong lòng con người và truyền lệnh cho tất cả những ai được sinh ra đều phải tôn kính và yêu mến cha mẹ mình. Đạo hiếu - Giới Răn Thứ Bốn.

Thật vậy, những ai có lòng kính mến Thiên Chúa, vâng giữ lề luật của Ngài, thì người ấy cũng cảm thấy việc thực hành Giới Răn Thứ Bốn là điều tự nhiên.  Hành động thảo hiếu với lòng yêu kính và tuân giữ giới luật Thiên Chúa sẽ dẫn đến tác động đạo đức và trở thành một nhân đức: Đức hiếu thảo. Đây là nhân đức qui chiếu về sự kính sợ và yêu mến Thiên Chúa: “Thứ nhất thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.” Thờ phượng và tôn kính Thiên Chúa là Cha, Đấng Tạo Hóa muôn loài, và yêu thương kính trọng cha mẹ là người được Ngài cho phép hợp tác vào công trình tạo dựng, trong đó có việc đem chúng ta từ hư vô đến hiện hữu.

Sở dĩ Thiên Chúa ban luật và bắt buộc con cái phải thảo kính cha mẹ, vì đã là luật thì hễ không tuân thủ là có tội, như luật lệ do con người thiết lập trong sinh hoạt xã hội. Ngài làm thế vì con người rất dễ sai sót và yếu đuối, chính vì vậy việc tỏ lòng yêu mến và phục vụ cha mẹ đã được ghi khắc thành luật nhằm nhắc nhở và hướng dẫn hành động của con người. Vì luật lệ được lập ra không phải là để áp đặt, trừng phạt, nhưng là để giúp con người sống đúng và đạo đức hơn.

Như vậy khi người Kitô hữu kính cha, yêu mẹ là chu toàn không những việc thờ phượng, kính mến Thiên Chúa mà còn phản ảnh hành động ấy, niềm tin ấy trước đối tượng thực tế là cha mẹ. Thánh Gioan khi nói về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người đã viết: “Kẻ mà không yêu được anh em mình là người mà nó nhìn thấy, làm sao có thể yêu mến Thiên Chúa là Đấng nó không nhìn thấy được” (1 Gioan 4:20). Cũng một hình thức tương tự, nếu chúng ta không yêu mến, hiếu thảo cha mẹ là người đã sinh ra mình, ban cho mình sự sống thể lý đây thì làm sao ta có thể thảo hiếu, kính mến Thiên Chúa là Đấng vô hình đã tạo dựng, cứu độ, và thánh hóa chúng ta được. Ở đây ta có thể nhìn giới luật này với một lối nhìn mới bằng cách tự hỏi rằng: Liệu thân phận và số phận con người hôm nay và mai sau có liên quan gì đến Đạo Hiếu không? Liệu ta có thể bị bỏ vào hỏa ngục vì đã bất hiếu với cha mẹ không? Rất có thể, bởi vì trong 10 Giới Răn không thấy nói giới răn nào trọng hơn giới răn nào, điều này cho ta hiểu rằng cả 10 Giới Răn đều quan trọng và cần thiết như nhau để làm thành một vòng xích gắn bó chặt chẽ. Do đó, nếu một mắt xích nào lỏng lẻo, hoặc bị đứt lập tức sẽ làm cho cả vòng dây xích trở thành lỏng lẻo và thiếu hoàn hảo.

Tóm lại, đạo hiếu đối với người Kitô hữu không chỉ là một số hành động mang tính cách truyền thống, văn hóa hay đạo đức xã hội. Người Kitô hữu nhìn đạo hiếu bằng một lăng kính tâm linh mang ý nghĩa lề luật. Nó đem con người đến gần lại với Thiên Chúa qua việc thảo kính cha mẹ mình.


TRÊN CĂN BẢN THÁNH KINH

Như vừa đề cập ở trên, Thánh Kinh ghi lại những luật truyền của Thiên Chúa về đạo hiếu. Những điều được ghi chép trong Cựu Ước và Tân Ước, bao gồm những lời dậy dỗ về đức hiếu thảo, những phần thưởng và hình phạt dành cho những con cái thảo hiếu cũng như bất hiếu đối với cha mẹ.

-Bổn phận làm con đối với cha mẹ:

“Hỡi các con hãy nghe cha đây,
Hãy xử sự sao để được độ sinh.
Vì Chúa đặt vinh quang cha trên con cái,
quyền lợi mẹ, Ngài củng cố nơi đàn con.
Kẻ tôn kính cha thì bù đắp lỗi lầm.
Và trọng kính mẹ khác gì tích trữ kho tàng.
Kẻ tôn kính cha sẽ hoan lạc nơi con cái,
khi khẩn nguyện, sẽ được nhậm lời.
Kẻ tôn vinh cha sẽ được trường thọ,
Người an ủi mẹ sẽ được công nơi Chúa.
Kẻ kính sợ Chúa sẽ tôn kính cha,
Nó sẽ phục vụ các bậc sinh thành như chủ của mình.
Hãy thảo kính cha con bằng lời nói việc làm,
ngõ hầu mọi phúc lành đổ xuống trên con,
Vì chúc lành của cha làm cho rễ chắc,
Còn chúc dữ của mẹ thì nhổ cả cây.
Con đừng vênh vang về việc cha con bị nhục,
Vì vẻ vang gì cho con, cái nhục của cha con!
Quả thế, người ta chỉ được vẻ vang
lúc cha mình được tôn kính,
và con cái phải ô nhục khi mẹ mình bị khinh bỉ.
Con ơi! Hãy săn sóc cha con lúc tuổi già,
Sinh thời người, chớ làm người sầu tủi.
Trí khôn người có suy giảm, con cũng phải cảm thông,
chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người.
Vì lòng hiếu thảo đối với cha sẽ không bị quên lãng,
nó sẽ đền bù tội lỗi cho con.
Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khốn khó,
và các tội con sẽ biến tan,
như sương muối biến ta lúc đẹp trời.
Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn,
Kẻ khinh rể mẹ, chọc giận Đấng tạo thành ra nó. 
(Huấn Ca 3:1-16)

Cũng trong Huấn Ca, Thiên Chúa muốn con cái phải hết lòng tôn kính và thảo hiếu, đặc biệt nhấn mạnh đến công ơn sinh thành của người mẹ:

“Hết lòng tôn trọng cha con;
Và đừng quên những cơn đau đớn của mẹ.
Hãy nhớ rằng nhờ họ, con đã sinh ra;
Làm sao con báo đền được điều họ cho con?”
(Huấn Ca 7:27-28)

Trong Sách Tôbia, Ngài đã dùng lời của Tôbia khuyên con Ông để nói với con người:
“Hãy thảo kính mẹ con. Đừng bỏ người ngày nào trong suốt đời người. Con hãy ăn ở đẹp lòng người và đừng làm điều chi phiền lòng người cả. Hỡi con, con hãy nhớ là người đã phải trải qua bao nỗi gian lao hiểm nguy vì con khi con còn trong lòng dạ người.” (Tôbia 4:3-4).
Và trong Tân Ước, Thánh Phaolô cũng đã nhắc lại và khẳng định rõ ràng, hiếu thảo là việc làm đẹp lòng Thiên Chúa: “Con cái hãy vâng phục cha mẹ trong mọi sự, vì là điều đẹp lòng Thiên Chúa” (Côlôsê 3:20).

Nổi bật nhất là gương của Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa. Với thân phận con người và trong vai trò làm con, đã thực hành đạo hiếu qua hành động vâng phục cha mẹ của mình. Thánh Kinh ghi lại rằng sau khi hoàn tất công việc của Thiên Chúa tại đền thờ Giêrusalem: “Ngài theo ông bà trở về Nazareth, và vâng phục các ngài” (Luca 2:51).  

-Phần thưởng hiếu thảo:

Vì hiếu thảo mẹ cha là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa, nên bất cứ những ai tuân theo điều Ngài truyền dạy, lập tức họ được hưởng những hoa trái do hành động của mình làm. Thiên Chúa đã nhân danh cha mẹ hứa thưởng cho những người con hiếu thảo ấy:

“Hãy kính trọng cha mẹ ngươi, ngõ hầu ngày đời ngươi được kéo dài trên phần đất Giavê Thiên Chúa sẽ ban cho ngươi” (Xuất Hành 20:12).    

“Con cái hãy vâng phục cha mẹ trong Chúa: vì đó là điều phải. Hãy thảo kính cha mẹ ngươi. Lệnh truyền ấy là lệnh truyền thứ nhất có kèm thêm lời hứa: Ngõ hầu ngươi được phúc và hưởng thọ trên đất” (Êphêsô 6:1-3).

“Ngài theo ông bà trở về Nazareth, và vâng phục các ngài. Phần mình, Giêsu lớn lên khoẻ mạnh, khôn ngoan và đầy ân sủng trước mặt Thiên Chúa và con người” (Luca 2:51-52).
Nối kết ý nghĩa của hai câu Thánh Kinh trên, ta có thể hiểu rằng Chúa Giêsu lớn lên, khỏe mạnh, khôn ngoan và đầy ơn sủng Thiên Chúa, chính là vì Ngài là một người con có hiếu và vâng phục cha mẹ.

-Hình phạt bất hiếu:

Vì đạo hiếu chính là lề luật của Thiên Chúa, nên nếu có phần thưởng cho những ai tuân giữ, thì cũng có hình phạt cho những ai bất tuân. Sách Thánh đã ghi lại một số các hình phạt sau:  
“Con mắt khinh dể cha và miệt thị tuổi già của mẹ, bầy quạ nơi thác nước sẽ mổ thủng, và phượng hoàng sẽ cấu xé nó.” (Cách Ngôn 30:17)

“Kẻ bạc đãi cha và xua đuổi mẹ là đứa con bất xứng và ô trọc.” (Cách Ngôn 19:26).
  
 “Và kẻ nào đánh đập cha mẹ mình sẽ phải chết. Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ mình sẽ phải chết” (Xuất Hành 21:15, 17).

“Bởi chưng bất cứ ai mà nguyền rủa cha mẹ mình tất phải chết. Nó đã nguyền rủa cha mẹ nó: máu nó đổ xuống trên mình nó” (Lêvi 20:9).

“Kẻ rủa mẹ mình sẽ thấy đèn mình tắt lụi giữa tối tăm” (Cách Ngôn 20:20).

Không thực hành đạo hiếu đã là một lỗi lầm lớn đối với Thiên Chúa, nhưng nếu hành động một cách bôi bác, chiếu lệ cũng không trọn lề luật. Chúa Giêsu đã trả lời tư tưởng này của bọn luật sĩ và biệt phái:

 “Còn các ông, các ông lại bảo: Kẻ nào nói với cha mẹ mình rằng: “Mọi điều tôi có thể giúp ông bà, tôi dâng làm của thánh”, thì không phải thảo kính cha mẹ nữa. Các ông nại cớ tập tục của các ông mà phế bỏ luật điều của Thiên Chúa. Hỡi bọn giả hình, Isaia đã nói tiên tri rất đúng về các ông rằng: Dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta. Việc chúng tôn kính Ta trở nên vô ích, những giáo lý và luật điều chúng dạy bảo đều là của loài người.” (Mátthêu 15:5-9).

NIỀM TIN ĐI VÀO HÀNH ĐỘNG

Vậy dưới cái nhìn tâm linh và căn cứ vào giới luật của Thiên Chúa, người Kitô hữu thực hành luật hiếu thảo như thế nào? Như đã trình bày trên, đạo hiếu đối với người Công Giáo không phải là một lời khuyên hay một gợi ý mà ai muốn giữ hay không tùy ý. Nó đã trở thành luật - một giới luật - gắn liền với niềm tin tôn giáo.

-Cha mẹ đã qua đời:

Để tuân phục và truyền dạy luật hiếu thảo, Giáo Hội Công Giáo đã đề ra những hướng dẫn rất thực tế nhằm giúp cho các tín hữu thực thi một cách đầy đủ Giới Răn Thứ Bốn; cách đặc biệt, đối với những cha mẹ đã qua đời. Những điểm thực hành này bao gồm: Tháng Các Linh Hồn. Lễ Các Thánh. Lễ Các Linh Hồn. Lễ Cầu Hồn. Lễ Giỗ. Thánh Lễ hằng ngày. Và Thánh Lễ Đầu Năm.

Để hiểu thêm về lý do của những thực hành trên, và sự cần thiết của nó liên quan đến Giới Răn Thứ Bốn, chúng ta cần biết thêm rằng, theo Giáo Lý Công Giáo tất cả những ai đã qua đời đều phải đi về hai nơi rất rõ rệt: Thiên Đàng hoặc hỏa ngục. Thiên Đàng nơi hạnh phúc và bình an đời đời do Thiên Chúa dành để cho những ai suốt đời sống và thực hành các giới luật của Ngài (trong đó có Giới Răn Thứ Bốn). Hỏa ngục dành cho Satan, các quỉ thần và những ai suốt đời sống trọng tội lỗi, bất tuân giới luật Ngài, làm điều ác cho tha nhân. Những người mà cho đến chết vẫn chối bỏ và phủ nhận tình thương của Thiên Chúa, nhận ơn tha thứ.

Trên con đường về Thiên Đàng, vẫn theo niềm tin Kitô Giáo thì ngọai trừ Đức Trinh Nữ Maria, Đấng được ơn đầu thai vô nhiễm tội, tràn đầy ơn Thiên Chúa, là người đã sinh ra Chúa Cứu Thế đã được về trời cả hồn lẫn xác sau khi lìa trần. Còn lại tất cả đều phải dừng lại ở một nơi để được thanh luyện hầu cho trong sạch, tinh tuyền trước khi vào vinh quang thiên quốc và chiêm ngắn dung nhan Chúa Trời. Nơi đó, gọi là Luyện Hình hay Luyện Tội. 

Cũng theo niềm tin Kitô Giáo, thì sau khi đã chết, không ai có thể tự mình làm gì cho mình được, dù là một việc làm tốt rất nhỏ. Và do đó, không ai có thể tự cắt ngắn thời gian tinh luyện, nếu như không có người còn sống hy sinh, cầu nguyện, và làm việc ấy thay cho mình.
Từ xác tín trên, Giáo Hội đã dành để một tháng cho các tín hữu, nhất là con cái, cháu chắt, và các người thân trong gia đình cầu nguyện cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã qua đời. Tháng đó là tháng 11 và được gọi là Tháng Các Linh Hồn. Trong suốt tháng này, con cái, cháu chắt, người thân sẽ xin lễ, cầu nguyện, và làm việc thiện để cầu cho các linh hồn người thân đã quá cố. Nổi bật nhất là Lễ Các Thánh (ngày 1 tháng 11), và Lễ Các Linh Hồn (ngày 2 tháng 11).  

Lễ Kính Các Thánh Nam Nữ hay Lễ Chư Thánh, là lễ để cảm tạ hồng ân Thiên Chúa, chúc mừng cha mẹ, ông bà, tổ tiên những vị đã qua đời mà nay đang hưởng phúc trên nơi vĩnh hằng. Trong ngày này những người còn sống hướng lên những vị thánh của gia đình mừng vui với các ngài, đồng thời xin các ngài cầu bầu cho mình để cũng được sống đạo tốt lành theo gương các ngài.

Lễ Các Linh Hồn hay Lễ Các Đẳng. Con cái, cháu chắt, và người thân tham dự Thánh Lễ để cầu cho các ân nhân, cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã qua đời. Ra nghĩa trang viếng mộ, và sửa sang lại phần mộ với mục đích cám ơn và xin lỗi về những điều mình đã làm phiền muộn các ngài khi còn sống, ôn lại những hy sinh và những điều tổ tiên đã làm để noi theo, và tưởng nhớ đến các ngài.

Tiếp tới là Thánh Lễ An Táng ngày cha mẹ qua đời, và Lễ Giỗ kỷ niệm ngày các ngài qua đời.
Nhưng không phải chỉ có tháng 11, hoặc ngày cha mẹ qua đời hay các ngày giỗ, mọi ngày trong cuộc đời Kitô hữu, tất cả con cái, cháu chắt đều có cơ hội cầu nguyện cho cha mẹ, ông bà, và tổ tiên còn sống cũng như đã qua đời mỗi khi tham dự Thánh Lễ. Trong Thánh Lễ, người con, người cháu nhớ đến và cầu nguyện cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên mình bằng những lời mà Giáo Hội đã đặt vào miệng lưỡi linh mục, khi dâng lên Thiên Chúa để cầu nguyện cho những tín hữu đã qua đời:

“Chúng con cũng xin Chúa thương cho ông bà, cha mẹ, anh chị em chúng con đã qua đời và tất cả những ai đã ly trần trong ơn nghĩa Chúa, được vào nước Chúa, nơi chúng con hy vọng sẽ tới, để cùng nhau tận hưởng vinh quang Chúa muôn đời, khi Chúa lau sạch nước mắt chúng con, vì khi được thấy tường tận Chúa là Thiên Chúa chúng con, thì muôn đời chúng con sẽ trở nên giống Chúa, và sẽ ca ngợi Chúa không cùng.” (Kinh Nguyện Thánh Thể III, Sách Lễ Giáo Dân, 1410).

Đó là lý do người Kitô hữu nhớ đến những người thân yêu, và cũng là lý do tại sao Kitô Giáo có truyền thống xin lễ cầu cho các linh hồn, nhất là linh hồn cha mẹ, ông bà, tổ tiên sau khi các vị này đã qua đời.  Người Kitô hữu tiếp tục làm như vậy vì không biết sự đền trả của người thân mình sẽ là bao lâu, và hoặc giả các vị đã siêu thoát thì những lời cầu ấy sẽ trợ giúp những tín hữu mà con cháu, hoặc người thân bỏ quên không nhớ tới.  Đức Tin Công Giáo gọi đây là mầu nhiệm các thánh cùng thông công. Sự thông công này trở nên một thực hành nhằm củng cố đức tin, nâng đỡ các tín hữu thiếu may mắn, và đáp lại đạo hiếu mà mọi người cần phải thực hiện. 

Vào dịp đầu năm mới, hình ảnh cha mẹ, ông bà, tổ tiên từ cái nhìn đạo hiếu dân tộc còn được tìm thấy qua Thánh Lễ Đầu Năm. Thánh Lễ dâng lên để cám ơn Thiên Chúa, Cha nhân lành, và cùng con người hòa nhập vào với thiên nhiên để tỏ lòng tôn kính và yêu thương cha mẹ. Ứng dụng niềm tin vào truyền thống văn hóa Việt Nam, ngày Đầu Năm Mới còn được gọi là ngày cảm tạ hồng ân Thiên Chúa, nhắc nhớ vai trò làm con của mọi người đối với Đấng Tạo Hóa, và đạo hiếu của người con đối với công đức sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, ông bà và tổ tiên. Trước khi chúc tuổi thọ, dâng biếu quà cáp cho ông bà, cha mẹ trần gian, người Kitô hữu nâng lòng mình và lời chúc tụng mình lên Thiên Chúa, Cha toàn năng, và trong thánh lễ, dĩ nhiên cũng cầu xin cho cha mẹ, ông bà còn sống, đồng thời tưởng nhớ đến mọi người thân yêu đã quá vãng. Tất cả những đáp trả tâm linh ấy phải được thực hành trước, rồi mới đến hành động hiếu thảo bằng những tặng vật, quà cáp vật chất.

-Cha mẹ khi còn sống:

Tuy nhiên không chỉ là đáp trả công đức sinh thành, thực hành đạo hiếu bằng tinh thần suông, người Kitô hữu cũng như mọi người còn có trách nhiệm thực hành đạo hiếu bằng những việc làm thực tế của mình. Nhưng để thực hành cách đầy đủ và tỏ lòng yêu kính các bậc sinh thành, chúng ta cũng cần phải hiểu qua những khó khăn của các ngài trong lúc tuổi già:

Về thể lý, cái yếu ớt của người già tương tự như sự yếu ớt của một em bé. Tuy nhiên, ở tuổi trẻ những yếu ớt kia đang từ từ được củng cố, và phát triển theo thời gian; ngược lại, sự yếu ớt của người lớn tuổi lại từ từ đi xuống cho đến khi sức khỏe thể lý không cho phép họ làm được gì nữa. Câu nói xem như diễu cợt: “Ông lão là đứa bé sống lâu” đã trở nên đúng khi so sánh về mối tương quan thể lý và phát triển của một đời người.

Từ sự yếu đuối thể lý dẫn đến những căn bệnh ngặt nghèo mà không ai trong lứa tuổi này muốn có. Thân thể, tứ chi và nội tạng như một chiếc máy rệu rạo, hoạt động rất giới hạn. Trí thông minh cũng bị hạn chế! Những nghiên cứu gần đây cho biết 10% người già 65 tuổi và 50% người già 85 tuổi mắc hội chứng lú lẫn (Alzheimer). Trí thông minh trước đây sắc bén, linh hoạt bao nhiêu thì bây giờ đang trở nên lẩn thẩn, chậm chạp và lú lẫn bấy nhiêu. Ðó là những gì mà chúng ta nhìn thấy và khảo cứu được. Còn ảnh hưởng rệu rạo, rã rời của thân xác do ảnh hưởng của bệnh tật gây ra thì chỉ người cao niên mới thực sự cảm nhận rõ ràng hơn qua khía cạnh tâm lý. Sau đây là một số hành động hiếu thảo mà con cháu có thể làm cho ông bà, cha mẹ khi các ngài còn sống:

 * Trọng kính vâng lời: Ðiều này áp dụng cả khi chúng ta đã khôn lớn. Hành động trọng kính và vâng lời là hành động của những người con, dù những người con ấy lúc này là bất cứ ai và ở vào tuổi tác nào. Người con có thể nghĩ và coi mình đã lớn, đã có danh phận và địa vị, nhưng trước mắt cha mẹ, người con vẫn là những cu Tý, cái Tẹo như hồi còn thơ trẻ, và vì thế cha mẹ vẫn luôn mong muốn và thấy mình hạnh phúc nếu con cái vâng lời, và trọng kính.   

* Giúp đỡ an ủi: Sự giúp đỡ không chỉ với vấn đề vật chất, mà còn cả về mặt tâm lý và tinh thần. Một lời nói, một cử chỉ, một cú điện thoại, một lần thăm viếng. Tâm lý cô đơn và trống vắng của tuổi già khiến các ngài rất dễ sầu tủi, do đó, sự hiện diện, thăm viếng, hỏi han của con cháu là một nhu cầu rất tâm lý của tuổi già cha mẹ.  

* Giữ gìn danh tiếng cho cha mẹ: Đây cũng là một trong 5 điều thuộc đạo hiếu của Nho Giáo. Người con được cho là bất hiếu nếu ăn ở bất lương, làm điều xấu xa để vì vậy mà cha mẹ bị khinh thường và nhục lây là những đứa con bất hiếu.

* Cầu nguyện cho cha mẹ: Không phải chỉ là ngày cha mẹ qua đời, mỗi năm một lần nhân ngày giỗ, hoặc trong Tháng Các Linh Hồn, mà mà là mọi ngày trong Thánh Lễ cũng như lời kinh nguyện của chúng ta.

* Nhắc nhớ về cội nguồn: Treo hình ảnh cha mẹ, ông bà, tổ tiên nơi trang nghiêm để con cháu biết mà hãnh diện về nguồn gốc của chúng. Những thế hệ đầu di dân vì mau chóng hội nhập vào dòng chính, nên phần lớn quên mất hoặc cố tình quên đi cội nguồn của mình. Nhưng con cháu thuộc thế hệ thứ hai hoặc thứ ba lại có khuynh hướng và nhu cầu tìm về cội nguồn và muốn biết tổ tiên mình là ai, từ đâu đến và vì lý do gì? 

* Bảo tồn ngôn ngữ: Ðối với những người Việt tha hương, bảo tồn ngôn ngữ cũng là một cách báo hiếu cha mẹ. Một số phụ huynh trẻ cho rằng cần phải để con em quên tiếng Việt và muốn con em mình nói tiếng Mỹ, tiếng Pháp, tiếng Đức… vì sợ rằng nói hai tiếng sẽ làm cho các em lẫn lộn và ảnh hưởng đến việc học. Tâm lý phát triển minh chứng ngược lại rằng các em nói được nhiều ngôn ngữ là những em thông minh và thành công hơn trong học vấn. Con cháu sẽ dễ dàng, thông cảm hơn cha mẹ, ông bà nếu mức độ cảm thông qua việc diễn tả bằng ngôn ngữ đạt tới mức cả hai đồng cảm được với nhau. Do đó, việc con cái duy trì được truyền thống và tinh thần văn hóa dân tộc trong đó có đạo hiếu cũng ảnh hưởng nhiều nếu chúng biết đọc, biết viết, và biết nói tiếng Việt.

KẾT LUẬN

Đạo Hiếu theo Kitô Giáo không chỉ là một hành động luân lý, đạo đức xã hội. Nó còn là một giới luật được Thiên Chúa truyền dậy, một giới răn chỉ đứng sau ba giới răn dành riêng cho Thiên Chúa. Điều này cho thấy người Công Giáo thảo hiếu, kính trọng cha mẹ không chỉ theo ảnh hưởng của văn hóa, xã hội, tâm lý, mà căn bản nhất, đó là hành động này đặt trên niềm tin tôn giáo. Và một trong những tác dụng của niềm tin này là họ biết rằng: Thảo kính cha mẹ là điều làm đẹp lòng Thiên Chúa.

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011

Giới Trẻ Trước Căn Bệnh Vô Cảm

Tu Sĩ Lôrensô: Vũ Văn Trình MF


Nhân loại đã bước vào kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên với rất nhiều thuận lợi giúp cho con người, đặc biệt là giới trẻ có điều kiện học hỏi, trau dồi và tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại. Tiếc thay, giá trị đạo đức lại bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến “bệnh vô cảm”. Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác, cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn xã hội xảy ra trước mắt. Con người hầu như trở nên vô tình trước cuộc sống của người khác, để “Mạnh ai nấy sống”, “Phải ai tai nấy”. Lời cha ông ta đã dạy: “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” hay “Thương người như thể thương thân” từ lâu đã trở thành đạo lý của con người Việt Nam. Truyền thống tốt đẹp ấy luôn được đồng bào ta giữ gìn và phát huy. Thế nhưng ngày nay, bên cạnh những con người biết đồng cảm, chia sẻ, luôn nghĩ đến người khác còn có những kẻ thờ ơ, lãnh đạm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân. Đối với những người mắc “bệnh vô cảm” này, chúng ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân:


“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,


Người trong một nước phải thương nhau cùng”.


Vấn đề vô cảm trong xã hội hiện nay đang là thách đố cho các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ, cũng như những người có trách nhiệm. Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của “bệnh vô cảm”, chúng ta sẽ thấy tác hại ghê gớm của nó hầu tìm ra phương cách để chống lại căn bệnh quái ác này.


1. Thực trạng vô cảm của giới trẻ


Ngày nay, giới trẻ có nhiều cơ hội học hỏi, trau dồi kiến thức hơn các thế hệ đi trước, nhiều trường công và trường tư mở ra để đào tạo những con người có tri thức, có đạo đức, hầu phục vụ cho nhân quần xã hội, dẫn đưa đất nước đến một nền văn minh tiên tiến, theo kịp đà tiến bộ của các nước trên thế giới. Nhưng thật đau lòng mỗi khi những hình ảnh vô cảm và thiếu đạo đức của giới trẻ được các phương tiện truyền thông đưa lên mặt báo hay chúng ta tận mắt chứng kiến những cảnh đau lòng. Chẳng hạn như các bạn nữ sinh đánh nhau, cởi đồ và xé áo bạn mình đang có nguy cơ trở thành một “phong trào” hay là học sinh đánh thầy cô giáo đến nỗi phải nhập viện. Điều đáng lên án là, khi chứng kiến các vụ việc trên, hầu hết các bạn đều dửng dưng, bàng quan như không thấy gì. Thay vì can ngăn, giải thích đúng sai, thì họ lại cổ vũ, ủng hộ hết mình cho những hành động vô đạo đức và thiếu văn hóa đó. 


Mới đây, cư dân mạng lại giật mình trước hành vi côn đồ của một nhóm nữ sinh ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội… với những màn đánh đập, xé áo, cắt tóc. “Người quay lại những hình ảnh đó là một nam sinh. Kèm theo những lời chửi bới của những cô gái hành hung, còn cổ vũ nhiệt tình, hứng khởi của anh chàng này: “Cởi áo đi, cởi áo đi, xé áo đi…!!!” . Hơn nữa, nhiều người cũng ngỡ ngàng vì sự thờ ơ của những thế hệ 8x, 9x. Mặc dầu các bạn có điều kiện nhưng lại không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn. Rất nhiều người trẻ, khi thấy những người hành khất thì xua đuổi, dè bỉu. Gặp người bị tai nạn, thay vì dừng lại giúp đỡ nhưng lại bỏ đi như không có chuyện gì xảy ra, thậm chí có kẻ không những chẳng cứu giúp nạn nhân mà còn lợi dụng cơ hội tìm cách lấy cắp tiền của người bị nạn. 


Lại nữa, trong thời gian gần đây, tình trạng tội phạm giết người càng được trẻ hóa. Rất nhiều tội phạm đang ở thế hệ 8x, 9x. Chẳng hạn mới đây, dư luận xôn xao về vụ thảm sát, cướp tiệm vàng Ngọc Bích (phố Sàn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang). “Kẻ vô cảm” đã giết ba mạng người, đó là thanh niên Lê Văn Luyện, 17 tuổi. Có người đã nói: “Hành vi phạm tội của Lê Văn Luyện là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất dã man, tàn bạo, vô cảm chưa từng có từ trước tới nay”. Ngoài ra, còn có Hồ Nhật Linh,18 tuổi, ngụ tại Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã đâm 95 nhát dao vào thai phụ có bầu 8 tháng tuổi, sau đó vứt xác nạn nhân xuống mương… 


Thực trạng của “bệnh vô cảm” này đang diễn biến hết sức phức tạp. Một lần nữa, tiếng chuông báo động về sự vô cảm lại được rung lên, đặc biệt đối với giới trẻ. Ông cha ta đã thấy rõ được những tác hại của nó nên đã tích cực phê phán, lên án những thói xấu chỉ biết vun quén cho riêng mình: “Đèn nhà ai nhà ấy sáng”, hay “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”. Quả thật, không thể dung thứ cho những hành động vô cảm ấy. Nó đồng nghĩa với việc vứt bỏ truyền thống của dân tộc, cũng là vứt bỏ chính bản thân mình. 


2. Nguyên nhân dẫn giới trẻ đến vô cảm


Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô cảm và tha hoá đạo đức của giới trẻ, nhưng tựu chung, cái gốc chính là cách sống của giới trẻ ngày nay, và cách giáo dục nhân bản từ trong gia đình cho đến nhà trường và ngoài xã hội còn quá thờ ơ, hời hợt.


2.1 Nguyên nhân bản thân


Do bản thân họ thiếu tình yêu thương, thiếu lòng quảng đại; họ sống bằng thứ lý trí sắt đá, tình cảm khô cằn của mình. Thêm vào đó, do ngoại cảnh tác động: khi một con người bị chính cái xấu hãm hại, khi mà những điều tốt đẹp không xảy đến với bản thân, thì họ sẽ trở nên hận đời và vô cảm trước cuộc đời. Họ không còn lòng tin vào điều tốt, thế nên họ vô cảm trước những điều tốt đẹp trên cuộc đời này. Đối với họ, nhà hàng xóm gặp hoạn nạn, có người thân mắc phải tệ nạn xã hội, họ cũng bàng quan như không hay biết, không hỏi han, cũng chẳng an ủi một vài lời. Trên đường đi, gặp người bị nạn, họ bỏ đi, chẳng thèm quan tâm sống chết ra sao, hoặc có ghé lại thì cũng chỉ để thỏa mãn tính hiếu kỳ, giương đôi mắt ếch nhìn chung quanh, không hề giúp đỡ nạn nhân vì họ sợ phải gánh trách nhiệm. Gặp kẻ bất hạnh, tàn tật nằm bên vệ đường, họ chẳng những không thương xót mà còn khinh bỉ, rẻ rúng những con người kém may mắn đó. Quả thật, đó là những hành động đáng lên án.


Theo chuyên viên tư vấn Lý Thị Mai thuộc Trung tâm Tư vấn Hôn nhân và Gia đình TPHCM, cho biết: “Do tâm lý sống ‘chỉ biết mình’ khá phổ biến trong giới trẻ ngày nay, căn bệnh vô cảm đã thật sự xâm nhập và ăn sâu trong thế hệ trẻ hiện giờ!” Hơn nữa, sự vô cảm bắt nguồn từ lối sống ích kỷ, thực dụng, hưởng thụ là nguyên nhân khiến người ta cảm thấy cuộc sống nhàm chán, đơn điệu, vô nghĩa. Hậu quả là, những xúc cảm đạo đức bị hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu.


2.2 Nguyên nhân từ gia đình


“Gia đình chính là tế bào của xã hội, gia đình mà tốt đẹp thì xã hội mới tốt đẹp được”. Đây chính là bài học giáo dục công dân của học sinh cấp II. Thế mà ngày nay, trong nhiều gia đình, cha mẹ rất ít dạy con có sự đồng cảm với người khác, với những người chung quanh. Theo chuyên gia tư vấn tâm lý Triệu Hồng Như thuộc Trung tâm Tư vấn Tâm lý Hà Nội: “Cách phản ứng, hành vi của giới trẻ một phần là do học hỏi ngoài xã hội và một phần là do ảnh hưởng từ trong gia đình, cũng có khi là do lối sống mà giới trẻ tự tạo nên… Thói quen bó hẹp giao tiếp, chỉ giao lưu với những người ảo trên mạng game online. Những cảnh bạo lực từ đấm đá đến chém giết man rợ, đầy rẫy trong các trò chơi điện tử, trên ti vi, trong truyện tranh; những thú vui giải trí được giới trẻ yêu thích sẽ dẫn tới thờ ơ hay lãnh đạm với những việc xảy ra xung quanh, đó là một hệ quả không tránh khỏi”.


Đúc kết kinh nghiệm giáo dục con cái, ông cha ta đã khuyên: “Dạy con từ thuở còn thơ”, cũng tựa như uốn cây tre, phải uốn từ lúc tre còn non. Nhưng dường như nhiều gia đình ngày nay không coi trọng điều này, không quan tâm đến việc dạy con phải có sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ và biết tha thứ cho người khác. Bởi lẽ, cha mẹ thiếu gương mẫu về đạo đức, về lối sống, cũng không quan tâm dạy bảo con cái. Hiện nay, có bao nhiêu bậc cha mẹ chịu bỏ thời gian dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con có lòng khoan dung, độ lượng, vị tha và những chuẩn mực giá trị đạo đức mà con người phải sống theo và tôn trọng với tư cách là một con người? 


Hơn nữa, nhiều phụ huynh vì cưng chiều con nên đáp ứng tất cả những yêu cầu vô lối của con một cách vô điều kiện. Thế nhưng, họ lại không dạy con phải biết chia sẻ, quan tâm và có trách nhiệm với người thân, với bạn bè. Một đứa trẻ chỉ biết "nhận" chứ không biết "cho" sẽ nghèo nàn về cảm xúc, vô tâm trước đòi hỏi của tình người, và bàng quan trước nỗi đau của kẻ khác.


2.3 Nguyên nhân từ nhà trường 


Nhà trường là nơi đào tạo ra những con người có tài đức, biết quan tâm đến mọi người và tích cực phục vụ cho nhân quần xã hội. Thế mà ngày nay, trong một số trường học, người ta chỉ chú tâm đến việc nhồi nhét tri thức, còn vấn đề đạo đức dường như đang bị bỏ ngỏ, thậm chí có những trường chỉ dạy môn giáo dục công dân cho qua lần chiếu lệ.


Bên cạnh một số thầy cô mẫu mực, nhiệt huyết với việc giáo dục, vẫn còn đó những thầy cô chưa hoàn thiện nhân cách. “Có thầy cô gọi học sinh là mày xưng tao, có thầy cô chêm cả những câu chửi tục vào lời nói của mình, có thầy cô quát mắng học sinh như kiểu dân chợ búa, … Chính các em đã phải thốt lên rằng “giáo viên ăn nói thô lỗ, vô văn hóa như vậy thì trách sao học sinh không bắt chước” . Những hành động đó ít nhiều xâm nhập vào thế giới quan của giới trẻ, dần dà hình thành lối hành xử thô bạo, thiếu tình thương. Sự vô cảm lẽ nào chẳng bắt nguồn từ đó? Thầy cô được xem như cha mẹ thứ hai của học sinh. Nếu họ vô cảm thì sẽ thiếu tình thương dành cho những đứa con của mình, thiếu nhiệt tình và trách nhiệm trong việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho học sinh. Vì “vô cảm” họ cũng sẽ “đào tạo” ra những học trò vô cảm như họ. Như thế, ta phải nói sao về những chủ nhân tương lai của đất nước? Đây chính là một mối họa lớn cho xã hội.


Quả thật, môi trường giáo dục đang trở nên bất ổn hơn bao giờ hết. Đó thật sự là mối lo ngại sâu sắc đối với ngành giáo dục và cả xã hội. Nguyên nhân của vấn nạn trên thì có nhiều. Nhưng có một nguyên nhân mà khiến người ta day dứt, trăn trở nhiều nhất, đó là căn bệnh vô cảm, nó giảm sút nghiêm trọng tinh thần đấu tranh đang bao trùm ở khắp nơi, với mọi đối tượng. 


2.4 Nguyên nhân từ xã hội 


Do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, với những ứng dụng hiện đại của công nghệ thông tin đã ảnh hưởng đặc biệt đến thế hệ trẻ, làm thay đổi cách thức làm việc, giao tiếp và tư duy, dẫn đến giới trẻ sống vô cảm không quan tâm đến những việc xung quanh. Theo GS Mark Bauerlein (Mỹ), khi càng sử dụng internet thì người ta càng lơ là với những gì diễn ra xung quanh. Khi blog, mạng xã hội xuất hiện, giới trẻ được tự do thể hiện mình. Nhưng một khi tự giam mình quá lâu trong thế giới ảo, một bộ phận giới trẻ sẽ có lối sống bất thường và dẫn tới trầm cảm hay vô cảm,…


Đồng thời, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến đạo đức truyền thống: một mặt, nó làm cho những giá trị truyền thống được phát huy, những giá trị đạo đức mới được hình thành; mặt khác, nó làm nảy sinh tư tưởng ích kỷ, lãng quên trách nhiệm cộng đồng, đề cao cái tôi cá nhân lên trên cái ta cộng đồng, lấy giá trị vật chất làm thước đo cho tất cả. Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh cho rằng: “Dường như đang có một cuộc khủng hoảng niềm tin trong xã hội hiện đại dẫn đến các bạn trẻ sống vô cảm". 


Hơn nữa, căn bệnh vô cảm là kết quả của một lối sống thực dụng ngày càng ăn sâu vào văn hóa của xã hội ngày nay. Khi mà các giá trị sống, giá trị đạo đức tinh thần, lòng bao dung nhân ái, tình thương yêu đồng loại, sự hy sinh... đang dần bị thế chỗ cho chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa duy lợi và chủ nghĩa cá nhân, thì con người không còn cảm giác trước nỗi đau của đồng loại. Bên cạnh đó, do sự gia tăng những bất công xã hội, là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lối sống “phong bì”, người lớn không còn là tấm gương đạo đức cho giới trẻ, khiến đạo đức bị suy giảm.


3. Tác hại của căn bệnh vô cảm


Bệnh vô cảm có những tác hại thật ghê gớm, nó không chỉ làm suy giảm đạo đức của một cá nhân mà còn đẩy đất nước đến bờ tụt hậu, suy thoái.


3.1 Bệnh vô cảm có thể dẫn đến chết người


Một bác sĩ nếu “vô cảm” sẽ không có đủ tình thương đối với con bệnh của mình, sẽ đánh mất đi lương tâm của một thầy thuốc, sẽ quên đi phương châm: “Lương y như từ mẫu”. Chẳng hạn, trước một ca cấp cứu, bệnh nhân đang ở trong tình trạng nguy kịch, nhưng vì gia cảnh nghèo, không có tiền để đóng viện phí hay không có tiền để “bồi dưỡng” cho bác sĩ, thì “bệnh vô cảm” khiến cho bác sĩ ấy chậm trễ, thờ ơ hay không nhiệt tình cấp cứu bệnh nhân, cuối cùng để bệnh nhân chết oan uổng, gây đau khổ cho những người thân của họ. Càng đau đớn và chua xót hơn nếu bệnh nhân kia là cha mẹ, là người cột trụ về kinh tế trong gia đình. Họ phải tất tưởi ra đi, để lại những đứa con thơ dại, cha mẹ già không ai phụng dưỡng trong cảnh cô đơn, già yếu. Mới đây tại Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội, chỉ vì sự vô cảm của bác sĩ và các y tá, đã dẫn đến cái chết oan uổng của một em bé chưa kịp chào đời. Chị Hao kể: “Chồng tôi đã bồi dưỡng bác sỹ An một triệu đồng, nhờ cứu cho mẹ tròn con vuông rồi gia đình sẽ “hậu tạ” sau. Thế nhưng, bác sĩ An không mổ ngay cho tôi mà đi vào phòng riêng ngồi xem vô tuyến đến tận 23h40, còn 2 hộ sinh nữ là Vũ Thị Diệu Vân và Trần Hoàng Linh ngồi ở một góc phòng ăn bánh kẹo, nói chuyện, làm việc riêng để mặc cho tôi đau đớn trên bàn sinh. Tôi đau đớn khi biết con mình trong bụng đang chết dần chết mòn mà không thể cứu được. Tuyệt vọng, tôi cầu cứu các y tá đang ở gần đó nói giúp với bất cứ bác sĩ nào cũng được, mổ giúp tôi lấy con ra mà không một ai đứng dậy tìm bác sĩ. Họ vẫn cứ thờ ơ, thản nhiên ăn uống, cười đùa với nhau như không có chuyện gì xảy ra cả” . Còn nói về người giữ sinh mạng của nhiều người như tài xế chẳng hạn, mà mắc “bệnh vô cảm” thì cái chết không chỉ mang đến cho một người. Người tài xế “vô cảm” sẽ coi mạng con người chẳng ra gì, cố tình phóng nhanh, vượt ẩu, giành đường để về trước, sẽ gây hậu quả khôn lường. Một vụ tai nạn giao thông tại Bình Thuận mới đây, đã cướp đi sinh mạng của mười người và rất nhiều người bị thương. Nguyên nhân cũng chỉ vì tài xế “vô cảm”, coi mạng người như cỏ rác.


3.2 Bệnh vô cảm có thể để lại tai họa lớn cho xã hội


Thầy cô giáo được xem là “kỹ sư tâm hồn”, là “cha mẹ thứ hai” của học sinh. Nhưng nếu “vô cảm” sẽ thiếu tình thương dành cho những đứa con của mình, thiếu nhiệt tình trong việc giảng dạy, không có trách nhiệm trong việc giáo dục, hờ hững trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh, không quan tâm đến chất lượng giảng dạy, chỉ biết dạy hết giờ là ra về còn kết quả ra sao không quan tâm! Vì “vô cảm” họ sẽ “đào tạo” ra những lớp học trò thiếu trình độ, thậm chí cũng… “vô cảm” như họ. Như thế, các chủ nhân tương lai của đất nước sẽ đi về đâu? Rường cột nước nhà sẽ ra sao, nếu không nói là đã mục nát ngay từ trong trứng nước? Quả thật, đó là một mối họa vô cùng lớn cho xã hội!


3.2 Bệnh vô cảm có thể đưa đất nước đến suy vong


Các cán bộ Nhà nước là “đầy tớ của nhân dân”, hết lòng phục vụ cho công ích, điều hành mọi hoạt động của đất nước. Thế nhưng, họ lại “vô cảm” trước các nguyện vọng chính đáng của người dân, thì họ sẽ không thể nào nhìn thấy và thấu hiểu được những khốn khó trăm bề của dân đen. Thậm chí, lại không giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện về tài sản, đất đai của người dân; trái lại, còn nhũng nhiễu, gây khó dễ để được “chung chi”, hoặc trù giập, dùng vũ lực để chiếm lấy cho một tổ chức nào đó để mình được “phong bì” dằn túi riêng. Tất cả cũng chỉ vì tham lam, ích kỷ mà đánh mất đi cái lương tâm, cái phẩm chất đạo đức, cái tác phong nghiêm túc của một cán bộ “cho dân và vì dân”. Từ đó, nhân dân sẽ không còn tin tưởng vào chính quyền nữa, sẽ mạnh ai nấy sống, sẽ vơ vét cho riêng mình, sẽ sống “vô cảm” như cán bộ, chẳng ai lo cho lợi ích chung của cộng đồng dân tộc, phó mặc cho ngoại xâm xâu xé đất nước, tự do giành đất giành biển của chúng ta. Chính những cán bộ “vô cảm” thiếu trách nhiệm này đã gián tiếp đẩy đất nước đến bờ vực của suy vong.


4. Để giới trẻ bớt vô cảm


“Bệnh vô cảm” không phải là tội ác, nhưng chính nó là con đường dẫn đến tội ác. Hơn nữa, nó còn lây lan trong cộng đồng: một người vô cảm thì mọi người xung quanh sẽ vô cảm theo, và cuối cùng, có thể là cả một xã hội vô cảm. Vô cảm còn ví như căn bệnh “ung thư tâm hồn”. Nói đến căn bệnh thể xác thì người ta sợ nhất là ung thư, còn nói đến căn bệnh tâm hồn thì “vô cảm” cũng đáng sợ không kém. Bởi lẽ, nó có sức công phá ghê gớm trên nhân cách và đạo đức của con người. Từ đó, nó phá hủy toàn bộ nền kinh tế và chính trị của cả một dân tộc. Chính vì thế, từ cá nhân đến gia đình, từ trong nhà trường ra ngoài xã hội, phải chung tay góp sức, tích cực đẩy lùi căn “bệnh vô cảm” này ra khỏi đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.


4.1 Về phía bản thân


Mỗi bạn trẻ hãy sống đúng chuẩn mực đạo đức của con người, biết đồng cảm với mọi người, biết trau dồi, học hỏi những bài học trong cuộc sống về sự công bằng, bác ái, yêu thương những người xung quanh và phải có quyết tâm muốn thay đổi chính bản thân mình. Ngoài ra, cần phải học hỏi những tấm gương của những người đạo đức, đồng cảm trong xã hội. Chẳng hạn mẫu gương các nữ tu đang phục vụ tại trung tâm Sida giai đoạn cuối - Mai Hòa - Củ Chi. Các nữ tu đã đồng cảm với số phận của những người kém may mắn qua cách phục vụ tận tình giúp đỡ họ. Chính vì thế, có những bệnh nhân đã phải thốt lên rằng: “Ở đây, chúng em thật là hạnh phúc vì có các nữ tu phục vụ chăm sóc tận tình và đồng cảm với số phận của chúng em còn hơn những người ruột thịt trong gia đình, chúng em có chết cũng mãn nguyện”. Hay mẫu gương của chàng sinh viên Hiến thuộc Học viện Bưu chính Viễn thông TPHCM. Thấy một cô gái nằm sõng soài bên con lươn xa lộ, “quan sát kỹ hơn, Hiến hốt hoảng thấy hàng chục xe tải, xe khách, container cứ vô tư đi ngang qua, không ai thèm đoái hoài đến cô gái. Trong giây phút ấy, Hiến cùng Sơn vội vàng lao ra đường, không cần đắn đo, bế thốc cô gái, máu ướt đẫm chạy thẳng đến bệnh viện” .


Đặc biệt, chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh Đức Giêsu đã dạy chúng ta bài học về sự chia sẻ, sự đồng cảm với người khác. Chúa đã thực hành trước khi dạy chúng ta: Ngài đã biết chia vui trong tiệc cưới Canna, Ngài cũng biết chia buồn với cái chết của Lazarô, của con trai góa phụ thành Naim… Hơn nữa, trong thư gửi tín hữu Rôma thánh Phaolô cũng đã nêu bật về sự đồng cảm với mọi người: “Vui cùng kẻ vui, khóc cùng kẻ khóc” (Rm 12,14).


4.2 Về phía gia đình 


Gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Gia đình là ngôi trường đầu tiên của con người, từ đó những đứa trẻ học được nhân cách làm người. Vì thế, muốn cho con cái trở nên tốt, gia đình phải là nơi mọi người sống yêu thương, nâng đỡ và đùm bọc lẫn nhau. Các thế hệ cùng chung sống phải biết quan tâm tới nhau, thì người trẻ mới biết học hỏi, noi gương nếp sống đạo đức. Giáo dục phải cải cách để tăng cường đạo đức, nhân cách cho các em, không chỉ “dạy chữ’ mà nhất là phải “dạy người”. Hơn nữa, phải “Tiên học lễ, hậu học văn”. Theo Tiến sĩ tâm lý giáo dục Đinh Đoàn: “Nếu người lớn có trách nhiệm và quan tâm hơn tới con cái, hành động và cư xử đúng đắn hơn để làm tấm gương cho các em thì sự vô cảm có lẽ đã không lan nhanh và mạnh như thế”.


Nhất là, gia đình phải tích cực, bằng cách quan tâm giáo dục cảm xúc một cách thực tế cho con cái ngay từ nhỏ. “Không chỉ dạy trẻ nhận biết cảm xúc của người khác mà còn hướng dẫn trẻ hiểu nguồn gốc những cảm xúc đó, cũng như ảnh hưởng của cảm xúc đó đến mọi người để từ đó điều chỉnh cảm xúc, hành vi của mình. Các nhà tâm lý học cũng đưa ra khuyến cáo, gia đình phải thay đổi thói quen dạy con kiểu Á Đông: Chỉ ra lệnh mà không quan tâm đến suy nghĩ độc lập của con. Học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc với con cái là việc mà cha mẹ là những người đầu tiên phải làm. Con cái chỉ có thể hiểu được một cách rõ ràng nhất khi được cha mẹ hướng dẫn cụ thể bằng những việc phù hợp. Chính những điều nhỏ nhặt này tạo nền tảng đầu tiên để trẻ bớt nghĩ đến bản thân, mở rộng lòng ra cùng người khác. Và điều quan trọng, người lớn phải tạo cơ hội cho các em thực hiện.” 


4. 3 Về phía nhà trường


Môi trường giáo dục ở nhà trường không chỉ là nơi trang bị kiến thức mà còn phải quan tâm đến việc giáo dục nhân cách, đạo đức và đồng cảm với các bạn trẻ. Một khi nhà trường biết quan tâm đúng mức về giáo dục đạo đức cho giới trẻ thì kết quả sẽ khả quan hơn. Vấn đề này, chúng ta thấy rõ trong các trường Công giáo và các cơ sở nội trú của các nhà Dòng. Các học sinh, sinh viên khi được giáo dục ở đó, họ không chỉ biết sống lễ phép với mọi người mà còn sống gương mẫu, ngoan ngoãn, và biết quan tâm yêu thương mọi người. Theo Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, Trưởng khoa Tâm lý Đại học Sư phạm TPHCM: “Nhà trường không nên chú tâm vào việc dạy kiến thức mà quên đi việc dạy các em nên người. Hơn nữa, mỗi thầy cô giáo phải là tấm gương đạo đức cho các em noi theo”.


Mặt khác, nhà trường nên dạy học sinh biết cách ứng xử, biết quan tâm giúp đỡ mọi người và giáo dục kỹ năng sống có chất lượng, thiết thực, sinh động, bằng cách khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dám đấu tranh trong mọi học sinh. Chỉ có như thế, cái xấu, cái tiêu cực, cái thô bạo ở môi trường giáo dục, trong học sinh mới hết đất sống. Đây cũng là cơ sở để xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu tình nghĩa, yêu thương nhưng lại mạnh mẽ, không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác thường nảy sinh, ẩn nấp dưới nhiều hình, nhiều dángvẻ trong cuộc sống.


4. 4 Về phía xã hội


Xã hội nên quan tâm đến giới trẻ, tạo những cơ hội cho họ, giúp họ sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, nhất là giúp họ biết quan tâm, yêu thương, hy sinh và biết giúp đỡ mọi người. Tiến sĩ Tâm lý Đinh Phương Duy cho biết: “Giới trẻ ngày nay, không phải là họ không muốn sống cho ra người mà còn muốn sống tốt hơn nữa”. Có người đã nói: “Cơn khát làm một người sống lương thiện, sống đạo đức cháy âm ỉ trong tâm khảm của họ. Chính vì thế, họ đang cần được xã hội quan tâm giúp đỡ, nhất là mở những lớp học về cách ứng xử trong cuộc sống. Đồng thời, họ mong muốn những người có trách nhiệm nên làm gương cho họ”.


Kết luận


Để kết thúc bài viết, xin mượn lời câu ca dao:


“Bầu ơi thương lấy bí cùng


Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn”.


Để nói nên tình cảm của con người với con người, chúng ta không thể đánh đổi bằng những vật chất tầm thường mà chỉ có sự chân thành quan tâm mới có thể duy trì một mối quan hệ bền vững. Trao đi thật nhiều yêu thương, quan tâm và sẻ chia chúng ta sẽ không phải hối hận, vì sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ nhận được sự trìu mến ân cần của những người khác. Hãy “tiêu diệt” căn bệnh vô cảm một cách triệt để, hãy trao yêu thương và nhận thật nhiều yêu thương.


Hơn nữa, một xã hội vô cảm là một xã hội chết! Một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt của một cỗ máy vô tri, chắc hẳn chẳng ai muốn như vậy. Một nhà văn Nga đã từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương”. Con người sống mà không có tình thương thì chẳng khác chi con vật, chẳng khác chi cái xác không hồn, tồn tại giữa dòng đời một cách vô nghĩa, và sẽ chết dần mòn trong cô đơn, lạnh lẽo. Thế nên, chúng ta hãy tích cực chống lại “bệnh vô cảm”, phải sống có tình thương, có trách nhiệm với cộng đồng và đặc biệt là phải mở lòng mình ra với cuộc sống. Chúng ta nên có một “trái tim nóng” để biết khóc, biết cười, biết lắng nghe, biết yêu thương, biết rung cảm với mọi người. Hãy phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc: “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”; phải yêu thương, kính trọng và sống hết lòng với mọi người chung quanh; phải biết: “Vui cùng người vui, khóc cùng kẻ khóc (Rm 12,14). Đó là liều thuốc đặc hiệu để chữa “bệnh vô cảm”. Như vậy, giới trẻ mới là chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam giàu đẹp, hiện đại và văn minh; xứng đáng với nòi giống “con rồng cháu tiên” của một dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến.


Tu Sĩ Lôrensô: Vũ Văn Trình MF


Các bài cùng tác giá, các bạn có thể vào google gõ các tựa đề của các bài sau


1 Vấn đề đạo đức của giới trẻ ngày nay


2 Vấn đề sống thử của giới trẻ ngày nay


3 Vấn đề phá thai của giới trẻ ngày nay


4 Toàn cầu hóa cơ hội và thách thức cho giới trẻ ngày nay


5 Giới trẻ khoa học và đức tin


6 Đức tin trong giới trẻ ngày nay


7 Tứ đức trong thời nay


http://vietcatholic.net/News/Html/94187.htm