Henricô Gia (Henricus Castaneda),Sinh năm 1743 tại Javita, Tây Ban Nha, Linh Mục dòng Ða Minh, thừa sai người Tây Ban Nha, địa phận Ðông Ðàng Ngoài, bị xử trảm ngày 7/11/1773 tại Ðồng Mơ dưới đời Chúa Trịnh Sâm, được phong Chân Phước ngày 15/04/1906 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 7/11.
| |
Cuối năm 1773, tin tức linh mục Castaneda tử đạo đã về tới quê hương ngài ở Tây Ban Nha. em trai thánh nhân là Clêmentê biết trước tiên, đã hết sức thận trọng khi báo tin cho mẫu thân. Bà sốt sửng hỏi: "Tại sao Jacintô của mẹ lại chết. Anh ấy chết bệnh hay bị giết?". Clêmentê chợt nghĩ anh mình mới 30 tuổi, sợ mẹ buồn lên anh hỏi lại: "Vậy mẹ muốn anh ấy chết cách nào?. Bà đáp: "Mẹ mong vì đức tin mà Jacintô con mẹ bị giết". Clêmentê liền nói : "Thưa mẹ, chính vì đức tin, người ta đã chém đầu anh ấy". Ngay chiều ngày hôm đó, bà mẹ đến nhà thờ dòng Đaminh để cùng các tu sĩ hát lên lời tạ ơn TE DEUM.
Jacintô Castanede sinh ngày 13.10.1743 tại Jativa, thuộc giáo phận Valencia, Tây Ban Nha. Cậu được trời phú cho một khuôn mặt xinh đẹp đặc biệt. Nhiều người so sánh cậu đẹp như thiên thần trong các tranh của nhà danh họa Tây Ban Nha Murille (1862). Hơn thế nữa, chàng thanh niên tuấn tú ấy lại có một tâm hồn cao quý, đã sớm quyết tâm dâng hiến cuộc đời phục vụ Thiên Chúa và truyền giảng Tin Mừng cho thế giới. Để thực hiện lý tưởng cao cả đó, cậu đã gia nhập dòng Đaminh tại tu viên thánh Philipphê ở Valencia.
Lòng nhiệt thành truyền giáo đã đưa thày Jacintô đến Phi Luật Tân năm 1762. Sau khi thụ phong linh mục, cha tình nguyện đi loan báo Tin Mừng ở Trung Hoa. Dầu Trung Hoa đang cơn cấm cách, cha đã đến nơi vào tháng 04.1766 cùng với cha Lavilla giảng đạo ở Phúc Kiến. Sau ba năm nhiệt thành phục vụ, ngày 18.07.1769 hai vị linh mục bị bắt giữ 15 ngày ở Phú An, rồi gần hai tháng với 14 cuộc thẩm vấn ở Phúc Kiến, cuối cùng các ngài bị trục xuất về Macao.
Không nản chí và cũng không chùn bước, tại Macao, gặp hai cha dòng khác từ Manila tới để đi Việt Nam, cha Castaneda và Lavilla liền xin bề trên cho phép đồng hành sang Việt Nam. Sau đó, bốn vị cùng đáp tàu đến Bắc Việt ngày 23.02.1770. Cha Gia ở lại Trung Linh học tiếng Việt và phong tục Việt trong sáu tháng, rồi được cử đi truyền giáo ở khu Lai Ổn, Kẻ Diền, phủ Thái Ninh. Cha tự thuật như sau : "Hiện nay với sự cộng tác của hai linh mục bản xứ. Quả thật, tôi không đủ sức cáng đáng hết những việc phải làm".
Vì 60 làng có đạo mà cha Gia phụ trách ở rải rác cách xa nhau, nên cha phải liên tục di chuyển hết làng này đến làng khác, và chẳng bao lâu, sức khỏe cha giảm sút mau lẹ. Dù vậy, cha vẫn cố gắng đến thăm từng họ đạo. Giáo hữu rất yêu mến cha, nhưng luơng dân cố lập mưu bắt cha để được tiền chuộc hoặc tiền thưởng. Do đó, nhiều lần cha phải đổi chỗ để thoát khỏi những cặp mắt đang rình rập.
Ba năm truyền giáo đã trôi qua, ngày 12.07.1773, sau khi ban bí tích cho một bệnh nhân ở Lai Ổn, cha Gia và thày Tân về Kẻ Diền bị lọt vào vòng vây của quan phủ Thần Khê. Để đánh lạc hướng, thày Tân nhanh trí chèo thuyền quan bên kia sông Luộc, rồi lập tức quay lại cùng cha trốn vào ở làng Gia Đạo. Không ngờ người gia chủ đi báo với quan để lãnh thưởng nên cả hai đều bị bắt.
Qua trung gian chánh tổng Xích Bích, quan đòi 3 ngàn tiền chuộc. Cha đáp : "Quan muốn tha thì tha chứ tôi không có tiền chuộc. Tôi sẵn sàng chịu mọi gian khổ kể cả cái chết". Sau nhiều ngày hành hạ cha đủ cách, quan phủ không còn hy vọng đòi tiền chuộc nữa, mới cho giải nộp lên quan Trấn thủ Sơn Nam ở Phố Hiến (Hưng Yên), và cha Gia bị tống giam vào ngục.
Giữa tháng 10.1773, cha hân hoan gặp một tù nhân mới, linh mục Vinh Sơn Liêm bị bắt ngày 02.10 tại Lương Đống, cũng bị Chánh tổng Xích Bích giam giữ 12 ngày trước khi giải lên. Thật là niềm vui lớn, hai anh em cùng dòng từ nay sẽ đồng hành với nhau trong ngục tù cũng như trong vinh quang tử đạo. Ngày 20.10, quan Trấn truyền đóng gông hai cha có ghi chữ "Hoa Lang Đạo Sư"(1), rồi trao cho quan phủ Thần Khê áp giải lên Thăng Long.
Tại kinh thành Thăng Long, hai linh mục dòng Thuyết Giáo có nhiều cơ hội trao đổi về giáo lý với các quan. Cuộc trang luận nổi tiếng nhất được mệnh danh là "Hội Đồng Tứ Giáo", giữa đại diện bốn tôn giáo: Khổng giáo, Lão Giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo. Ba đề tài được đưa ra: Người ta bởi đâu mà có ? Sống ở đời này để làm gì ? Và chết rồi đi đâu ? Cha Gia với kinh nghiệm giảng đạo ở Phú Kiến, đã thành thạo trưng dẫn những điển tích, châm ngôn của Trung Hoa, khiến viên quan tổ chức, chú của Chúa Trịnh Sâm, phải hết sức khâm phục.
Chính Đô Tĩnh Vương Trịnh Sâm cũng thích hỏi hai cha nhiều chi tiết về đạo. Một hôm, ông yêu cầu cha Gia cử hành vài nghi lễ cho các quan xem, cha liền mặc áo lễ, cắt nghĩa lễ phục và trình bày giáo lý cho các quan. Sau đó, cha đặt tượng Thánh Giá trước ngài Tĩnh Đô Vương, quỳ xuống hôn kính sốt sắng và đọc kinh bằng tiếng Việt các kinh Ăn Năn Tội, kinh tin Kính, kinh Lạy Cha. Tiếp đó, cha nâng cao ảnh Đức Mẹ và đọc kinh Lạy Nữ Vương. Cử chỉ và lời kinh của cha gây nhiều xúc động cho những người hiện diện. Nhưng số phận của cha đã được định đoạt trong chiếu chỉ của phủ chúa rồi. Có điều bản án đến sớm hơn vì bà mẹ chúa Trịnh Sâm.
Nguyên do bà mẹ của Tĩnh Đô Vương rất sùng đạo Phật. Khi nghe tin có hai linh mục trẻ tuổi, thông thái lại điển trai và ăn nói văn hoa, liền yêu cầu được gặp mặt và nói chuyện. Thế là hai vị được dẫn đến trước mặt Thái Tôn. Rồi một hồi trao đổi thân mật, bỗng nhiên bà hỏi: "Nếu các thày nói chỉ có đạo các thày là đạo thật, vậy những người không theo đạo, chết đi về đâu ". Cha Liêm điềm nhiên trả lời : "Bẩm bà, sa hỏa ngục ạ !"(2). Câu trả lời của vị linh mục làm Thái Tôn nổi giận, không thèm nghe giải thích thêm, đòi xử tử hai ông đạo sư ngay lập tức. Từ đó, hai cha bị cách ly, không cho gặp ai nữa. Ngày 04.11.1773, sau một buổi nghị án, chúa Trịnh Sâm tuyên án trảm quyết cả hai vị.
Ngày 07.11.1773, quan quân điệu hai vị tông đồ đến pháp trường Đồng Mơ thi hành bản án. Trên đường, hai vị cùng thầm thĩ cầu nguyện xin Chúa thứ tha mọi lỗi lầm, đọc kinh Tin Kính và hát "Salve Regina" (Kinh Lạy Nữ Vương). Hai chứng nhân Chúa Kitô cùng lãnh triều thiên tử đạo. Cha Jacintô khi ấy mới 30 tuổi, với sáu năm truyền giáo ở Trung Hoa và Việt Nam. Nhưng máu ngài đổ ra đã vun tưới cho hạt giống Tin Mừng âm thầm trổ bông.
Thi hài hai vị tử đạo được an táng trọng thể ở nhà thờ Trung Linh. Ngày 13.11.1775, trong diễn văn trước Hồng Y đoàn, Đức Piô VI đã nhắc đến chiến thắng vinh quang của hai vị.
Ngày 20.05.1906, Đức Piô X đã suy tôn hai chứng nhân anh hùng lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.
Nguồn từ thư viện Đa Minh
Trường thi tử Đạo.
Giacintô Gia thừa sai linh mục
Năm Quý Hợi (1743) quê thực (Tây) Ban Nha Bạn thơm trong lúc xa nhà Cũng chức linh mục tên là Phạm Liêm Linh mục Liêm quê hương Trà Lũ Sinh Nhâm Tý (1732) quê phủ Thiên Hương Giảng rao lời Chúa đảm đương Trong thời cấm đạo lệnh thường cấm nghiêm Hai linh mục Gia, Liêm tử đạo Là Thừa sai loan báo đức tin Người Tông đồ Chúa dõi tìm Từ khi tuổi nhỏ đã xin nhập dòng Hết trung học vào trong tu viện Mười bảy tuổi trực diện khấn xong Trao dồi tu đức cầu mong Thừa sai giảng đạo thuộc dòng Ðaminh Ðược tuyển mộ nhiệt tình hăng hái Cậu lắng lo ái ngại mẹ già Báo tin anh, em đã đi xa Nhờ huynh coi sóc mẹ già chốn quê Hai năm chuẩn tràn trề ơn gọi Ðược thụ phong Chúa rọi ơn thiêng Cha Gia sứ mạng rao truyền Á Ðông tiên khởi là miền Trung Hoa Rồi sau đó học đà tiếng Việt Lén lút vào tới miệt Bắc Kỳ Giúp cho kẻ liệt Cha đi Giữa đường chúng bắt tức thì trục ngay Về Macao đất này Trung Quốc Bề trên sai Cha thuộc Việt Nam Vâng lời ý Chúa đã ban Trung Linh phục vụ cộng đoàn giáo dân Số tín hữu xa gần đông đúc Trên chục ngàn diễm phúc ba Cha Hai Cha Việt, với Cha Gia Sáu mươi họ đạo thật là quá đông Dù vất vả Ngài không quản ngại Giúp đỡ người trở lại đức tin Ba Cha cộng tác hướng tìm Thoát tay kẻ cướp tránh nhìn lính quan Giúp kẻ liệt gian nan khó tránh Ðến làng Non, gặp cánh Lê Ðô Tên tướng cướp chúng ập vô Cha con bỏ chạy trốn vô làng này Làng Kẻ Gia mới hay Phật Giáo Một bà già chu đáo nhận ngay Giấu cha mới được một ngày Giúp Cha ẩn trốn, chẳng may chồng về Sợ liên lụy ông Bê tố giác Với Lê Ðô giáo mác bắt Cha Chúng đấm đá đè xuống nhà Trói tay dẫn giải đi qua nhà mình Hắn xỉ nhục coi khinh nhân nghĩa Không cho ăn, tứ phía đòn roi Hai ngày bỏ đói chẳng coi Thí cho chút cháo có mòi tỉnh hơn Cha nhắn gởi cám ơn đừng chuộc Cướp Lê Ðô bắt buộc giải quan Nhốt cũi tre thật dã man Ðem ra phơi nắng chói chan trưa hè Có một nhóm tin nghe tìm đến Học tinh thông cập bến luận tranh Cha Gia đạo lý rất rành Rất hay triết lý lẹ nhanh kịp thời Con quý tử tới nơi chửi rủa Ngã vật ngay nằm ngửa van xin Chính quan thấy vậy đứng nhìn Muốn đòi tiền chuộc nói tìm giáo dân Năm trăm quan một lần trao đủ Sẽ trả ông thân chủ tự do Thả không thì thả thì cho Về kinh chẳng sợ, chẳng lo, chẳng phiền Sau hai tháng giam miền Kẻ Bích Thân xác Cha vết tích roi đòn Tinh thần sa sút héo hon Khô khan cầu nguyện xói mòn niềm tin Trong cũi chật mới nhìn tưởng khỉ Giải về kinh chước quỷ mưu ma Xin ơn phù trợ Cha Gia Qua cơn bão táp mưa sa giãi dầu Linh hồn cảm thấy sầu thống khổ Sợ ngã lòng Chúa đổ Thánh Linh Cho con gánh chịu cực hình Khẩn cầu Ðức Mẹ Ðồng Trinh hộ phù Ðang khi đó lù lù cũi khác Cha Sơn Liêm hốc hác ngồi trong Người bạn cùng học tu dòng Là niềm khích lệ ở trong nhà tù Sau lính giải Thầy Tu về phủ Áp tải Cha đông đủ quân binh Trước tòa quan lớn tâu trình Huyện quan lầm tưởng là mình có công Quan lớn nói giao ông giam giữ Phải thả ra và cử người canh Lệnh trên nghiêm túc tuân hành Cùm gông xiềng xích chỉ dành vật thôi Tại Phủ Chúa liên hồi thăm viếng Khắp giáo dân nghe tiếng các Ngài Thời cơ giảng đạo Chúa sai Huyện quan tức bực la hoài đuổi đi Ít sau đó Sư đi tranh luận Cụ Ðồ Nho mãi tận nơi xa Gay go đối chất với Cha Ðây là ý muốn của bà Thượng Trâm Mong Hoàng Tử sưu tầm đạo thật Là đề tài đệ nhất đưa ra Con người nguồn gốc đó mà Trần gian cuộc sống chúng ta làm gì Sau khi chết còn chi hay hết Cuộc luận tranh đúc kết vô tư Hội đồng tứ giáo danh sư Xin coi cuốn sách rất ư rõ ràng Hai đạo trưởng hiên ngang trảm quyết Tại pháp trường thắm thiết chúc nhau Phép lành trao đổi đời sau Lý hình đầu chém phép mầu Chúa ban Vác Thánh giá thế gian đã trọn Chúa thưởng công đã chọn hai Cha Ðón về Nhan Thánh Thiên Tòa Tử đạo Quý Tỵ (1773) chan hòa đức tin Lời bất hủ: Chánh tổng làng Gia Ðạo là Xích Bích quan đòi 3 ngàn tiền chuộc. Cha đáp: "Quan muốn tha thì tha chứ tôi không có tiền chuộc. Tôi sẵn sàng chịu mọi gian khổ kể cả cái chết". Chánh tổng nộp lên quan trấn, quan trấn truyền đóng gông với dòng chữ "Hoa Lang Ðạo Sư" (thời đó, 1773 còn gọi đạo Công giáo là Hoa Lang và gọi các Linh mục là Ðạo Sư). | |
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thánh Tử Đạo Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thánh Tử Đạo Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012
Henricô Gia (1743-1773)
Thứ Năm, 7 tháng 6, 2012
Giuse Trần Văn Tuấn (1824-1862)
Giuse Trần Văn Tuấn, Sinh năm 1824 tại Nam Ðiền, Nam Ðịnh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 7/01/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 7/06.
| |
Dấu hiệu Đức Cậy.
Sự lạc quan trước những thử thách, đó là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi mỗi người tín hữu. Chúng ta có thể gọi sự lạc quan ấy là Đức Cậy, vì dựa vào sức mạnh của Chúa và vững tin vào ngày mai tươi sáng. Nếu đã tin vào Đức Kitô, đấng đã chiến thắng các quyền lực sự ác, chúng ta thấy rằng không có gì có thể làm lay chuyển công trình Người thực hiện trên thế giới này. Đối với những thử thách lớn lao hơn như cuộc tử đạo, như những hình khổ, mà chỉ cần một hành vi chối đạo cũng đủ để thoát khỏ thì thái độ lạc quan kiên quyết của người tín hữu quả là một cuộc hiển dương Đức Cậy, như trường hợp Thánh Giuse Tuấn.
Sau một năm rưỡi đày cực khổ, các quan chỉ yêu cầu vị chứng nhân bước qua Thánh Giá để được tha về. Nhưng chẳng những người tôi tớ Chúa không tuân lệnh quan, lại còn quì gối trước Ảnh Chuộc Tội mắt hướng về trời cao mà cầu nguyện lớn tiếng rằng : "Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ trước tình yêu bao la và lòng thương xót hải hà của Chúa. Chúa là sức mạnh đỡ nâng con".
Người nông dân hiền lành.
Giuse Trần Văn Tuấn chào đời năm 1824 tại làng Nam Điền, một họ đạo xứ Phú Nhai, trong mái gia đình sinh sống nghề ruộng nhiều đời trên vùng đồng bằng sông Hồng thuộc tỉnh Nam Định (nay là Hà Nam Ninh). Cũng như hàng ngàn người nông dân Việt Nam, niềm vui của anh là con trâu, luống cày, để thu hoạch những bông lúa nặng trĩu do những giọt mồ hôi và công sức của mình.
Cùng với những giáo hữu đồng cảnh ngộ, cuộc đời anh Giuse Tuấn bỗng nổi cơn sóng gió vì những chiếu chỉ cấm đạo của nhà vua. Cuộc bách hại vào giai đoạn cao điểm này đã ảnh hưởng đến các phần tử nhỏ bé tầm thường nhất trong Giáo Hội Việt Nam. Năm 1860, anh tuấn bị bắt vào năm 36 tuổi, và bị giải tới phủ Xuân Trường cùng với một số giáo hữu khác. Về sau, anh lại bị phân sáp vào làng An Bái, Thuộc huyện Thụy Anh.
Máu đào minh chứng
Từ khi về làng An Bái, anh Giuse Tuấn bị giam trong ngục chật hẹp, cổ mang gông, chân mang cùm xiềng xích. Nhưng người chiến sĩ đức tin vẫn kiên trì chịu đựng trong nhẫn nại và vui vẻ. Theo chiếu chỉ phân sáp tháng 08-1861, quân lính nung đỏ thanh sắt, và khắc vào má của anh một bên chữ "Tả Đạo", một bên là nguyên quán làng xã. Sau những ngày tháng tù tội cơ cực, sức khỏe anh Tuấn suy giảm rất nhiều, các quan tưởng anh sẽ nản chí bỏ cuộc, nên điều tra và yêu cầu anh bước qua Thánh Giá. Quan còn hứa ban tặng tiền bạc sau khi trả tự do cho anh.
Nhưng các quan đã thất bại chua cay, người nông dân tầm thường đó không dễ bị lung lạc thối chí. Ngược lại, anh còn thừa trung tín và can đảm biểu lộ niềm tin của mình. Vì tin vào Đấng Sáng Tạo yêu thương vô biên, và tin vào đấng cứu thế, nguồn trợ lực tâm hồn, anh Giuse Tuấn Thành kính trước ảnh Chuộc tội nói lên lời cảm tạ Thiên Chúa, Đấng mà chính anh đang cảm nghiệm được sự nâng đỡ của Ngài. Và anh đã phải trả giá cho niềm tin đó: Quan đã kết án tử hình người chiến sĩ Đức Kitô làng Nam Điền.
Ngày 07.06.1862, trên đường tới nơi xử trảm, anh Giuse Tuấn bình thản đi sau đám quân lính, vừa đi vừa sốt sắng đọc kinh Cầu Các Thánh. Tới nơi, lý hình đã vung gươm chém đầu vị chứng nhân, đang khi anh qùy gối, miệng vẫn liên tục kêu tên cực trọng Chúa Giesu. Người nông dân chất phác hiền hòa nhưng đạo đức, gan dạ, đã dùng chính mình thay vì ngôn từ, để làm chứng cho Đức Kitô, nguồn chân lý vĩnh cửu bất diệt. Hai năm sau, thi hài vị tử đạo được các giáo hữu cải táng và long trọng rước về chôn cất tại nhà thờ họ Nam Điền, quê quán của ngài.
Ngày 29.04.1951 cùng với 24 vị tử đạo khác tại Việt Nam, người nông dân nghèo thánh thiện, Giuse Trần Văn Tuấn, đã được Đức Piô XII suy tôn lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
Ngày nay chúng ta không có hoàn cảnh như các ngài ở thế kỷ trước, nhưng với những khó khăn thử thách vẫn thường xảy đến, chớ gì chúng ta vẫn noi gương Đức Cậy của thánh Giuse Tuấn để mãi mãi ca tụng Thiên Chúa: "Lạy Chúa ! con hết lòng cảm tạ trước tình yêu bao la và lòng thương xót hải hà của Chúa. Chúa là sức mạnh nâng đỡ con".
Nguồn từ tu viện Đa Minh
Trường thi tử Đạo.
Năm Giáp Thân (1824) sinh Trần Văn Tuấn
Làng Nam Ðịnh phấn chấn nghề nông Luống cầy thu hoạch lúa bông Ca vang tiếng hát, cánh đồng phì nhiêu Nắng gay gắt, sớm chiều vất vả Dưới trời mưa tầm tã ngày đêm Vững tin có Chúa ơn trên Ðấng ban mọi sự, vững bền niềm tin Ðời anh Tuấn hướng nhìn vui vẻ Thì bỗng dưng phân rẽ nổi cơn Cuộc bách hại gây căm hờn Tầm thường nhỏ bé, giản đơn phiền hà Như anh Tuấn cũng đà bị bắt Cùng giáo dân quen mặt với nhau Anh Tuấn phân tán đi mau Về làng An Bái, rồi sau nhốt tù Nơi giam giữ là khu chật hẹp Cổ mang gông, kìm kẹp đôi chân Mặt anh khắc tự tím bầm Tháng ngày cơ cực, có phần yếu suy Quan cứ tưởng anh thì bỏ cuộc Nhưng ông lầm không buộc nổi anh Kiên cường Thiên Chúa vinh danh Chứng nhân của Chúa, chân thành xin vâng Trên đường tới phó dâng Cha Cả Anh Giuse thong thả nguyện cầu Lý hình gươm giáo sợ đâu Vung gươm đã chém, bay đầu chứng nhân Phúc tử đạo mùa xuân Nhâm Tuất (1862) Người chứng nhân đẹp nhất Thành Nam Tân Mão (1951) Sắc chỉ Giáo Hoàng (Piô XII) Suy tôn Chân Phước vẽ vang thế trần Thi hài được chôn gần nơi xử Hai năm sau giáo xứ rước về Nam Ðịnh chôn cất chốn quê Linh đình trọng thể, trọn bề kính tôn Lời bất hủ: Quan bắt chà đạp lên Thánh giá, thánh nhân đã quỳ gối trước ảnh Chuộc Tội, mắt ngước lên trời cao và cầu nguyện lớn tiếng rằng: "Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ trước tình yêu bao la và lòng thương xót hải hà của Chúa. Chúa là sức mạnh đỡ nâng con". | |
Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012
Giuse Túc (1953-1962)
Giuse Túc, Sinh năm 1852 tại Hoàng Xá, Bắc Ninh, Giáo dân, bị xử trảm ngày 1/06/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, Ngày 29.04.1951. Ngày 29.04.1951, Đức Piô XII suy tôn anh Giuse Túc lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 1/06.
| |
Vì sao lấp lánh
Sử liệu về thánh Giuse Túc có sự khác biệt nhau khá xa về số tuổi tác của ngài khi bị bắt và tử đạo. Một số sử liệu ghi rằng : Khi bị bắt và tử đạo, cậu Giuse Túc chỉ mới chín tuổi. Sử liệu khác lại cho là 19 tuổi hoặc 21 tuổi. Tuy nhiên khi xem xét kỹ các chi tiết về bắt bớ, tù đáy và xử án thánh nhân, chúng tôi nghĩ rằng dù dã man, các quan cũng không thể xử quá tàn bạo như thế với một cậu bé chỉ mới chín tuổi đầu. Việc tra tấn hành hạ của các quan phải dành cho một thanh niên đã khôn lớn, hơn là cho một em nhỏ còn thơ dại.
Vâng, giữa tuổi thanh niên, tuổi của những ước mơ và hy vọng, tuổi của hăng say và nhiệt thành, tuổi mà sự chăm sóc và dưỡng dục đòi hỏi biết bao công phu đang chín dần, để trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội. Với cái tuổi thanh xuân đáng quý ấy, Giuse Túc đã chiếu sáng như một vì sao.
Giuse Túc sinh năm 1843 tại họ đạo Hoàng Xá, xứ Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên (nay là Hải Hưng). Cha là Giuse Cẩn và mẹ là bà Trí. Trong cái nôi của gia đình nông dân đạo đức ấy, cậu Giuse Túc đã sinh ra và lớn lên với cuộc sống cần cù, hiền hòa như hầu hết mọi thanh niên Việt Nam ngày ngày miệt mài với nương ruộng. Nhưng thân phụ cậu không muốn cậu tiếp tục với công việc ruộng nương này, đã khuyến khích và lo liệu cho cậu theo nghiệp khoa cử. Cậu Túc vâng lời thân phụ chăm chỉ học chữ Nôm.
Những cuộc bách hại đạo của vua Tự Đức dai dẳng ngày càng khốc liệt hơn. Vì với chiếu chỉ Phân sáp ngày 05.08.1861, thì không một người nào, không một căn nhà nào của người công Giáo được bình yên. Biết bao người dân hiền hòa vô tội bị đạo đày, bị tàn sát và bị ghép cho những tội trạng mà họ không bao giờ nghĩ đến.
Gian truân thử đức.
Anh Giuse Túc bị bắt vào đầu năm 1862 khi đang ở độ tuổi thanh xuân tươi đẹp : tuổi 19. Anh bị tạm giam ít ngày ở huyện rồi bị giải về tỉnh. Sau đó, anh bị biệt giám 4 tháng tại Đông Khê, phủ Khoái Châu. Ban ngày phải mang gông nặng, ban đêm chân bị cùm xích. Dù vậy anh Túc vẫn trung kiên với đức tin chân chính. Nhiều bạn bè cùng bị giam với anh như Phêrô Kiên (18 tuổi), Phêrô Ngân (15 tuổi), Phêrô Lương (20 tuổi) cũng được kể vào số tôi tớ Chúa đang được chuẩn bị suy tôn Chân Phước. Các anh thường gặp nhau đọc kinh chung và an ủi khích lệ nhau can đảm đến cùng( 2).
Một số thân hữu lo lót quân lính để tạo cơ hội cho anh chốn khỏi ngục, nhưng anh nói : "Tôi sẽ không trốn bất cứ cách nào, vì nếu tôi trốn sẽ làm khổ người khác. Chúa muốn thế nào, tôi xin nhận như thế".
Khi một bạn tù tỏ vẻ lo âu không biết khi bị xử, người nhà có được tin để lãnh xác hay không anh Túc bình thản bày tỏ tâm trạng của mình : "Tôi an tâm, không lo lắng gì cả. Nếu Thiên Chúa cho tôi đổ máu vì đạo, tôi tin chắc sẽ được về trời. Còn thân xác này chôn được thì chôn, bằng không chôn được thì thôi.
Theo lá thư đề ngày 02.08.1862, cha Estévez Nam cho chúng ta biết tình hình ở tỉnh Hưng Yên: "… Trong tỉnh Hưng Yên, các quan còn giữ tợn hơn. Cuối tháng 5 rất nhiều giáo hữu bị dẫn lên tỉnh. Ngày 01.06, các quan giết 100 người, hôm sau giết 600, ngày mùng 3 giết nhiều hơn nữa. Các làng ngoại giáo được lệnh giết hết các tù nhân có đạo, và họ đã triệt để thi hành, nên tôi không biết được con số phải chết trong ký này…" (3).
Cuối tháng 5 năm đó, anh túc bị giải về Hưng Yên. Sau những lời dụ dỗ, dọa nạt và tra khảo nhiều lần không làm nay chuyển được lòng tin sắt đá của anh, các quan nhất trí kết án trảm quyết anh.
Khi lập án phong thánh cho anh Giuse Túc, một số giáo dân hiên diện trong cuộc tử đạo đã làm chứng, trong đó, ông Đaminh Hưng kể lại rằng : "Tôi đi theo cậu Túc ra tới pháp trường. cậu sốt sắng cầu nguyện và luôn kêu tên cực thánh Chúa Giêsu. Sau khi cậu bị xử chém đầu, tôi đã mai táng thi thể cậu rất tử tế".
Bà Maria Linh kể lại bà đã nhìn thấy đầu của vị tôi tớ Chúa bị quân lính tung lên cao cho quan thấy, để minh chứng với quan là họ đã triệt để thi hành mệnh lệnh. Hôm đó là ngày 01.06.1862. Thi hài anh Giuse Túc, người chiến sĩ đức tin được chôn tại chỗ, sau được cải táng và đem về nhà thờ xứ Ngọc Đồng, tỉnh Hưng yên.
Ngày 29.04.1951, Đức Piô XII suy tôn anh Giuse Túc lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
Nguồn từ thư viện Đa Minh
Trường thi tử Đạo.
Trong hàng ngũ các Thánh Tử Ðạo
Có những gương mạnh bạo thanh xuân Mười lăm, hai mươi tuổi trần Như bông hoa nở, toàn phần tươi xinh Tin vào Chúa hy sinh cao cả Chết hào hùng nên đã tuyên xưng Sẵn sàng loan báo Tin mừng Giuse tên Túc, tưng bừng Hưng Yên Năm Quý Mão (1843) sinh trên Hoàng Xá Xứ Ngọc Ðồng, người đã hy sinh Nông dân đạo đức nhiệt tình Mẹ cha lại muốn, con mình thành danh Vâng lời thân phụ, anh chăm chỉ Học Hán văn hoan hỷ siêng chăm Bút nghiên mới được mấy năm Vua ban chiếu chỉ, truy tầm giáo dân Cuộc bách hại toàn phần lớn nhỏ Giuse Túc, hồi đó thanh niên Lính vây đã bắt anh liền Giải giao về tỉnh, quan truyền tống giam Ngày gông nặng đêm mang xiềng xích Sống biệt giam chật ních Ðông Khê Nơi đây bốn tháng não nề Rồi sau mới được đưa về nhốt chung Kiên, Lương, Ngân, thường cùng an ủi Ðộng viên nhau, lần chuỗi nguyện chung Ðức tin vững mạnh tới cùng Một số thân hữu, trong vùng giúp anh Muốn lo lót lính canh để trốn Anh cản ngăn, tiền tốn phiền hà Sợ người liên lụy vì ta Vâng theo ý Chúa, mới là hồng ân Còn thân xác giản đơn càng tốt Chôn thì chôn hay đốt tùy nghi Mọi người chớ có ngại gì Linh hồn tin chắc sẽ đi về Trời Sau lại giải về nơi thị trấn Tại Hưng Yên tra tấn dụ khuyên Lòng anh sắt đá trung kiên Thanh niên dũng cảm, bạo quyền chịu thua Quan nhất trí cho đưa trảm quyết Tại pháp trường tha thiết kêu tên Giêsu lớn tiếng vang lên Bà Linh nhìn thấy đứng bên pháp trường (Bà Maria Linh kể lại đã nhìn thấy đầu người tôi tớ Chúa tung lên cao cho quan thấy) Ðầu tung lên, phô trương quan án Ðể trình tâu, chứng giám tuân hành Mộ chôn tại chổ xử anh Sau được cải táng lưu danh Ngọc Ðồng Phúc tử đạo tươi hồng Nhâm Tuất (1862) Tuổi thanh xuân đẹp nhất tên anh Ðức Giáo Hoàng (Piô XII) tôn thánh danh Vào năm Tân Mão (1951) sử xanh lưu truyền Lời bất hủ: Khi thân nhân lo lót cho quân lính để có cơ hội trốn khỏi ngục, anh nói: "Tôi sẽ không trốn bất cứ cách nào, vì nếu tôi trốn sẽ làm khổ người khác. Chúa muốn thế nào tôi xin nhận như thế". Giuse Túc lại nói với những bạn tù như sau: "Tôi an tâm, không lo lắng gì cả, nếu Thiên Chúa cho tôi đổ máu vì đạo, tôi tin chắc sẽ được về trời. Còn thân xác này chôn được thì chôn, bằng không chôn được thì thôi". | |
Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012
Lôrensô Ngôn (1840-1862)
Lôrensô Ngôn, Sinh năm 1840 trong một gia đình đạo dức thuộc xứ Lục Thủy (huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định), bị xử trảm ngày 22/05/1862 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 22/05.
| |
Sức mạnh của đức tin
Hai mươi tuổi đời, người vợ trẻ yêu dấu còn đó, rồi cha mẹ đã bao năm dưỡng nuôi mình nay đang cần người phụng dưỡng…Đó là nỗi ưu tư lớn của Thánh Laurensô Ngôn trong những ngày bị giam. Nhưng cũng trong những chuyện tích của nhiều vị tử đạo khác tại Việt Nam, sự yểm trợ tinh thần của những người thân quảng đại, nhiều khi lại là yếu tố rất quan trọng.
Gia đình anh Ngôn đồng ý cho anh đang chốn về thăm nhà, trở lại nhà giam để trình diện. Chính thân mẫu và người vợ hiền mà anh thương mến nhất, cũng đến hiện diện trong giờ hành quyết để khích lệ anh. Một lần nữa, chúng ta được chứng kiến sức mạnh của đức tin : Mạnh hơn bạo lực đàn áp, mạnh hơn mọi mất mát mà tinh thần và mạnh hơn cả sự chết.
Khôn Ngoan hay dại dột
Laurensô Ngôn chào đời năm 1840 trong một gia đình đạo dức thuộc xứ Lục Thủy (huyện Giao Thủy, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định), một xứ đạo lâu đời của giáo phận Trung. Song thân là ông Đaminh và bà Maria Thảo. Anh đã lập gia đình và là một gia trưởng gương mẫu yêu thương vợ con. Một lần anh bị bắt và bị buộc chối đạo, có lẽ vì nặng lòng với gia đình, nhưng lại không thể bất trung với Chúa, anh đã hối lộ tiền cho quan để được tự do.
Cuộc bách hại đạo thời vua Tự Đức ngày càng khốc liệt. Chiếu chỉ cấm đạo cuối cùng vua ban hành ngày 05.08.1861 đã gieo rắc biết bao khốn khổ đau thương cho những người dân vô tội. Chiếu chỉ này làm cho hầu như các cơ sở của Giáo Hội bị tàn phá hoặc bị tịch thu. Hầu hết tài sản ruộng đất của người Công Giáo bị cướp bóc đốt phá và phân chia cho người ngoại giáo. Giáo hữu bị thích hai chữ "Tả Đạo" vào má, và cứ năm người ngoại giáo quản lý một tín hữu. Giáo hữu, tu sĩ bị bắt, và đa số bị chết rũ tù hoặc tử đạo, một số chốn lên rừng sâu chết đói hoặc chết bệnh dần dần… Trong lịch sử bách hại của giáo hội hoàn cầu, hiếm có nơi nào bị bách hại vừa tinh vi vừa tàn bạo như thế.
Vào giai đoạn cao điểm này, anh Laurensô Ngôn đã bị bắt quân lính ; lần thứ hai ngày 08.09.1861, anh bị giải về phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Trong tù vì lo lắng cho gia đình, anh tìm cách trốn về để trấn an và khuyến khích cha mẹ, vợ con bền chí trung thành với đức tin, rồi anh trở lại trại giam. Quan truyền lệnh đóng gông và giải anh sang nhà giam An Xá, thuộc huyện Đông Quan.
Trong ngục tù, anh Ngôn chịu nhiều khổ nhục vì danh Thày Chí Thánh. Thế mà anh vẫn chưa lấy làm đủ, anh còn ăn chay mỗi tuần ba lần, va anh thường hối tiếc ăn năn mỗi khi hồi tưởng những lầm lỗi trước đây. Ngoài ra, anh Ngôn luôn an ủi khích lệ các bạn tù can đảm chấp nhận mọi cực hình, đừng bao giờ xúc phạm đến Thiên Chúa. Lời anh còn được cac bạn tù nhắc nhở : "Chúng ta hãy bền vững kiên trì, dù bị đòn đánh tra tấn giã man. Chúng ta hãy lo lắng sợ hãi khi nghĩ tới tội chà đạp Thánh Giá ".
Lần kia quan án gọi anh và dụ dỗ : "Anh còn trai trẻ, sao lại dại dột muốn chết ? Hãy bước qua Thập Tự, anh sẽ được trả về với gia đình". Anh ngôn trả lời:
"Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa tể trời đất. Thập Giá là phương thế Thiên Chúa đã dùng để cứu độ nhân loại, tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp. Nếu quan cho tôi sống tôi cám ơn quan, còn không, tôi sẵn sàng vui lòng chịu chết vì đức tin vào Chúa tôi".
Trong một cuộc tra tấn khác, khi quân lính tìm cách bắt anh chà đạp lên Thánh Giá thì lúc đó anh lại qùy phục xuống và kính cẩn cúi lậy Thánh Giá. Thái độ trung tín, hiên ngang đó khiến các quan càng tức giận, họ đã lên án trảm quyết anh.
Vinh hiển vĩnh hằng
Tám tháng rưỡi sau ngày bị bắt, người tôi trung Lourensô Ngôn đã được diễm phúc đổ máu ra vì danh Đấng đã hy sinh mạng sống cho anh cùng toàn thể nhân loại. Trước sự chứng kiến của hai người thân nhất: thân mẫu và người vợ hiền, anh Ngôn đã hiên ngang bước ra pháp trường An Triêm (Nam Định) lãnh phúc tử đạo ngày 22.05.1862.
Tại kinh thành Muôn Thuở Vatican, trong Vương Cung Thánh Đường Phêrô, ngày 29.04.1951, người thanh niên can trường Laurensô Ngôn đã được vị đại diện Đức Kitô dưới trần gian, Đức Piô XII suy tôn lên bậc Chân Phước. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
"Ước gì những người chịu đau khổ vì nghèo khó tật nguyền, đau yếu và người thử thách khác: chịu bách hại vì công chính, cũng biết kết hợp cách đặc biệt với Chúa Kitô, Đấng đã chịu đau khổ để cứu chuộc thế giới. Vì Chúa đã tuyên bố họ là người có phúc, và vì Thiên Chúa của mọi người ơn phúc, Đấng đã kêu gọi chúng ta đến sự vinh hiển muôn đời trong Chúa Giêsu Kitô, sau khi chúng ta chịu khổ trong thời gian ngắn. Chính ngài sẽ làm cho chúng ta hoàn hảo, vững chắc và mạnh mẽ (1Pr 5,10)". (Hiến chế giáo hội, số 41).
Đúng 100 năm sau cái chết kiên cường của người thanh niên trẻ trung : Laurensô Ngôn, lời huấn dạy của công đồng chung Vatican II như đã lập lại chính những gì mà anh Ngôn cùng bao vị tử đạo thời đại anh đã thể hiện.
Nguồn từ thư viện Đa Minh
Trường thi tử Đạo.
Lôrensô Ngôn gia đình đạo đức
Sinh Canh Tý (1840) tá túc Thiên Trường Chính làng Lục Thủy quê hương Gần Thành Nam Ðịnh kiên cường Việt Nam Lập gia đình đảm đang gia trưởng Thương vợ con định hướng đề ra Tề gia đạo đức thật thà Yêu người mến Chúa phải là thành tâm Anh khiêm tốn, âm thầm sống đạo Phải mẫu gương loan báo đức tin Phúc âm lời Chúa hướng tìm Hằng ngày khẩn nguyện, trái tim nhân lành Vua cấm đạo nên anh bị bắt Chúng giải đi trói chặt tay chân Thương vợ con nghĩ xa gần Tôi trung với Chúa hai phần phân vân Anh hối lộ quan quân tiền chuộc Ðược tự do thân thuộc mừng vui Họ hàng chia sẻ ngọt bùi Bà con bạn hữu, ngọt bùi ủi an Ðây hồng phúc, Chúa ban tử đạo Có đâu ngờ ai báo lên quan Lần hai bị bắt tống giam Xuân Trường Nam Ðịnh gian nan ngục tù Tìm cách trốn khỏi khu ngục thất Về gia đình thân mật ủi an Mẹ cha với vợ con bàn Trung thành với Chúa, vững vàng đức tin Rồi sau đó anh tìm trở lại Vào nhà giam quan lại trói gông Roi đòn tra tấn hội đồng Bắt anh quá khóa nếu không, tử hình Anh Ngôn vẫn trọn tình đoan hứa Mãi tôn vinh Thiên Chúa trên Trời Ngài là Chúa Tể muôn nơi Sẵn sàng chịu chết muôn đời tôn vinh Quan tức giận, bực mình trảm quyết Nhưng anh Ngôn cương quyết hy sinh Hai người thân thiết gia đình Vợ hiền với mẹ nghĩa tình chứng nhân Phúc tử đạo lãnh phần Nhâm Tuất (1862) Tại Thành Nam đẹp nhất đời trai Ðức Thánh Cha (Piô) thứ mười hai Suy tôn Tân Mão (1951) cho Ngài hiển linh Lời bất hủ: Quan xét xử và đưa lời dụ dỗ, anh nông dân trai trẻ chất phác trả lời: "Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa cả trời đất, Thập giá là phương thế Thiên Chúa đã dùng để cứu độ nhân loại, tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp. Nếu quan cho tôi sống, tôi cảm ơn quan, còn không, tôi sẵn sàng vui lòng chịu chết vì đức tin vào Chúa tôi". | |
Thứ Hai, 30 tháng 4, 2012
Giuse Tuân (1821-1861)
Giuse Tuân, Sinh năm 1821 tại Trần Xá, Hưng Yên, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 30/04/1861 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức. Đức Lêo XIII suy tôn chân phước linh mục Phêrô Nguyễn Bá Tuần ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 30/04.
| |
Nụ hôn của Giuda
Được cha xứ Kim Sơn tin cậy gửi gấm hai linh mục, Bát Biên kín đáo giấu hia vị trong nhà. một tuần sau, ông nói với hai cha : "Con nghe tin quan biết hai cha ẩn ở đây và quan quân sắp đến vây làng. con phải đem hai cha đi nơi khác an toàn hơn". Rồi Bát Biên mời linh mục thừa sai Fernandez Hiền xuống một chiếc thuyền nhỏ chở đi. Lát sau lại trở về đón cha Phêrô Tuần.
Xuống thuyền đi trốn, hai cha hoàn toàn tin lời Bát Biên, chẳng ngờ chút nào sự săn sóc ân cần đó lại chính là "cái hôn của Giuđa".
Âm mưu bắt hai cha của Bát Biên thành công thật êm thắm. Những nụ hôn bao giờ mà chẳng nhẹ nhàng êm ái ! Và đàng sau nụ hôn đó, tù ngục, tra tấn, cái chết đang chờ đợi hai cha.
Phêrô Nguyễn Bá Tuần chào đời năm 1766 tại làng Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên. Tử thuở bé, cậu tuần đã có tiếng là hiền lành, đạo đức, chăm chỉ học hành. Lớn lên, cậu vào sống trong nhà Chúa, tại đây cậu siêng năn học giáo lý, đồng thời học thêm chữ Hán. Thấy dấu chỉ có ơn kêu gọi, các linh mục giới thiệu cậu vào chủng viện. Nhưng mới theo học tại trường Latin ít lâu, Vua Cảnh Thịnh ra chiếu chỉ cấm đạo, thầy Phêrô phải nghỉ học và ẩn trốn nơi này nơi khác cùng với cha chính Hoan (Gatillepa). Thầy tỏ ra là một đệ tử đắc lực của ngài. May mắn thay, một thời gian sau, trường được mở lại, thầy Tuần trở về tiếp tục học hành và được lãnh chức linh mục năm 1807. Cha Tuần đã thi hành tác vụ thánh tại nhiều nơi, thu hái nhiều kết quả, được các bề trên hài lòng suốt 30 năm.
Giá trả về niềm tin
Năm 1838, khi vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao hơn thì cha Tuần đang làm chánh xứ Lác Môn, tỉnh Nam Định. Cha không chỉ lo chu toàn trách vụ giáo xứ của mình, nhưng cha còn lưu tâm đến tình hình Giáo hội Việt Nam, lo đến các anh em linh mục. Nghe tin làng quần Liêu sợ vạ lây, không muốn chấp nhận cha chính Fernandez Hiền bị bệnh kiết lỵ trầm trọng đang chữa tại đây nữa, cha Tuần phải vội vàng đến can thiệp và ở lại để dân chúng yên tâm giúp đỡ cha chính. Không ngờ nghĩa cử yêu thương này đã nối kết số phận đời cha với vị thừa sai Âu Châu.
Sau vài ngày, hai cha bỏ Quần Liêu trấn lên Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, thuộc giáo phận Tây Đang Ngoài. Nhưng tại đây quan quân cũng đang tầm nã gắt gao, các tín hữu bắt buộc phải giấu hai cha ngoài bãi sình lầy, suốt hai ngày nắng sương gió rét. Khi đó, cha xứ Kim Sơn cho tìm một người ngoại đạo tên là Bát Biên, người thọ ân ngài nhiều lần và gởi gấm tạm hai vị mục tử. Ở đây, trước khi được làm chứng cho niềm tin vào Thiên Chúa, hai cha đã phải trả giá cho niềm tin vào con người. Bát Biên trở mặt nộp hai linh mục cho quan Tổng Đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh. Thế là hai cha bị đóng gông giam vào ngục.
Trong tù, vị linh mục già 72 tuổi, luôn can đảm trung thành với đức tin của mình, dù thân thể già nua ốm yếu phải chịu gông cùm xiềng xích với biết bao đòn vọt. Khi viên quan nói với cha : "Lão già quá rồi, không chịu nỗi các hình khổ đâu". Cha Tuần trả lời : "Quả thực tôi ốm yếu già nua, nhưng Thiên Chúa sẽ cho tôi sức mạnh để đón nhận mọi cực hình và cả cái chết vì Ngài". Lần khác, quan cho một tín hữu đã bỏ đạo ra đạp lên thánh giá và bảo cha làm theo như vậy, cha liền nói: "Sao tôi lại phải bắt chước kẻ bội giáo? Mẫu gương tôi soi là hai Đức cha của tôi, tôi muốn noi gương các đấng ấy". (Cha Tuần muốn nói đến Đức cha Henares Minh và Delgado Y, tử đạo ngày 26.06 và 12.07).
Rũ tù trong vinh phúc.
Pháp luật thời đó không cho phép xử chém người già trên 60 tuổi. Thế nhưng ngày 18.07.1838, vua Minh Mạng vẫn phê án xử trảm cha Tuần. Bản án "vi hiến" đó đã không bao giờ thi hành được. Các hình khổ trong tù : tra tấn, đánh đập, đói khát, nóng nực và muỗi rệp, cuối cùng đã làm thay công việc của lý hình. Trước đó ba ngày cha Tuần đã hoàn tất cuộc đời làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa ngay trong nhà tù, tức ngày 15.07.1838.
Con đường tử đạo của cha không kết thúc đẫm máu, không có những bi kịch thảm thương. Một con đường khá bình thường, được dệt nên bằng những việc quen thuộc mà nhiều người khác có thể từng gặp trong đời: một người anh em mắc bệnh, một người phản bội vô tâm, đòn vọt, rệp muỗi... Nhưng "trên từng cây số" con đường đó, cha đã đi thật đúng đắn, thật trung thành, thật trọn vẹn. Cha đã tận tình lo cho người anh em gặp hoạn nạn. Cha đã hết sức tin vào con người, dù có thể gặp phải kẻ phản bội. Cha đã sống trọn vẹn niềm tin của mình trong những hoàn cảnh khó khăn, mới thoạt nhìn qua như có vẻ bình thường, nhưng vì dai dẳng nên cái bình thường đó không kém phần gay go.
Lòng trung thành trong những "việc nhỏ" như thế, đáng được coi là trung thành trong những "việc lớn". Lòng trung thành đó đã đưa cha đến phúc tử đạo dù không đổ máu. Cha được về quê trời ngày 15.07.1838 trong khi đã sẵn sàng bước ra pháp trường lấy máu mình minh chứng niềm tin. Giáo hữu rước thi hài cha về an táng tại nhà thờ xứ Ngọc Đồng, sau đem vào Nam đặt tôn kính tại xứ Lạc An, Biên Hòa.
Đức Lêo XIII suy tôn chân phước linh mục Phêrô Nguyễn Bá Tuần ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.
Nguồn từ tu viện Đa Minh
Trường thi tử Đạo.
Linh mục Tuân quê hương Trần Xá
Sinh Tân Mùi (1811) ba má nhà nông Cảnh nhà nghèo lại con đông Gia đình đạo đức cộng đồng Thánh gia Giuse Tuân mẹ cha giáo dục Cả gia đình ơn phúc Kitô Ðức tin vững mạnh tung hô Phượng thờ Thiên Chúa điểm tô rạng ngời Tuân được chọn từ thời niên thiếu Vào chủng viện năng khiếu triển khai Thông minh đạo đức hiền tài Sau về thần học, Ðức Ngài tấn phong Chức Linh Mục quan phòng ơn Chúa Ít lâu sau tuyên hứa nhập dòng Ðaminh lễ khấn đã xong Lên đường rao giảng cầu mong ơn lành Thời bách hại Cha đành lẩn trốn Thăm đoàn chiên khắp chốn bơ vơ Âm thầm phục vụ đón chờ Biết bao nguy hiểm bất ngờ xảy ra Xứ Ngọc Ðồng bà già bệnh nặng Sai con đi để đặng đón Cha Xức dầu giải tội cho bà Người con bất hiếu nó đà tố quan Ham tiền thưởng sẵn sàng phản bội Quan cho vây để về bắt Cha Ngài đang xức dầu bà già Lính liền trói bắt giải tòa Hưng Yên Chúng nộp Ngài quan trên tuần phủ Tại nơi đây lãnh đủ khổ hình Hù Cha nhìn thấy thất kinh Sau quan dụ dỗ chưa trình Vua phê Hãy quá khóa ra về thoải mái Còn quyền ta trở ngại gì đâu Cha Tuân cương quyết khởi đầu Tôi đây Linh Mục cho dầu khó nguy Ðường lối Chúa sẵn đi tới đích Về nước Trời giải thích quan hay Giàu sang phú quý đời này Như cơn gió thoảng cuốn bay còn gì Tình yêu Chúa mới thì bền vững Trước giáo gươm ta đứng hiên ngang Ðầu rơi tử đạo sẵn sàng Nhờ quan chuyển án lên đàng cho Vua Người chiến sĩ chạy đua tới đích Ra pháp trường mục kích Sông Hồng Nhiều người trong đám dân đông Nhìn Cha thọ án mà lòng thương riêng Ngài bước chậm bị xiềng quá nặng Cha kêu tên nghe đặng Giêsu Hồng ân tử đạo hộ phù Linh hồn Chúa thưởng thiên thu Nước Trời Thi hài được về nơi an táng Chết oai hùng xứng đáng con Cha Máu đào tử đạo chan hòa Nảy sinh hạt giống quê ta rạng ngời Phúc tử đạo đẹp ơi Tân Dậu (1861) Bỏ thế gian để tậu Nước Trời Gan vàng, dạ sắt tên người Suy tôn Tân Mão (1951) tuyệt vời thánh nhân Lời bất hủ: Dù cha bị hành hạ tra tấn gông cùm vẫn hiên ngang trung thành với Thầy Chí Thánh Giêsu, bất chấp những đau đớn và khổ hình trong tù, cha vẫn tiếp tục rao giảng tình thương vô biên của Thiên Chúa, cha khích lệ, nâng đỡ tinh thần những anh em giáo hữu đang bị giam cầm, an ủi những anh em giáo hữu âm thầm đến thăm cha và ban Bí tích cho họ. | |
Thứ Sáu, 27 tháng 4, 2012
Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng (1802-1856)
Lôrensô Nguyễn Văn Hưởng, linh mục; sinh năm 1802 tại Kẻ Sài, Hà Nội; tử vì đạo ngày 27 tháng 4, 1856, gần Ninh-Bình. Thánh Hưởng truyền giáo nhiều năm trước khi bị bắt, bị giam tù và bị xử trảm (chém đầu) dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 11/04/1909 do Ðức Piô X, lễ kính vào ngày 27/04.
| |
Là một chủ chăn tốt lành, Cha Hưởng quan tâm nhất việc giảng giải như lời ngài nói với giáo dân: "Nếu anh chị em có nhiều việc cần phải về sớm thì ít nhất phải nghe giảng đã, vì nếu không anh chị em sẽ không biết đàng biết cách giữ đạo". Ðể dọn bài giảng, cha đọc nhiều sách, mỗi tối thức khuya để dọn, vì thế khi giảng dậy cha trình bầy rất rõ ràng, sốt sắng, có thứ tự mạch lạc giúp người nghe nhớ lâu. Nhiều người nghe cảm động chảy nước mắt. Lòng đạo đức nhiệt thành cứu vớt các linh hồn của cha đã đáng được Chúa chọn làm của lễ đổ máu mình vì đạo.
Theo chứng từ của người cháu gọi ngài là chú, tên Anna Xuân, thì ngài là người con trai thứ bốn. Hồi còn nhỏ cha mẹ ngài gọi tên là Bơ, khi vào nhà Ðức Chúa Trời thì đổi tên là Tuấn và khi học lý đoán đổi tên là Hưởng, sau làm linh mục có đổi tên khác nữa nhưng người ta cứ quen gọi là Hưởng.
Cha Hưởng sinh năm 1802 tại Kẻ Sải, xã Tụy Hiền, tổng Trinh Khiết, huyện Hoài Yên, tỉnh Hà Nội. Cha mất sớm, mẹ lại nghèo nên cậu Hưởng phải đi ở chăn trâu cho người chú tên Thang. Ông chú muốn nhận làm con vì nhà không con, song cậu Hưởng nhất mực đòi đi tu nên đã bỏ chú đến ở với Cha Duyệt lúc 12 tuổi. Sau ba năm học chữ Nho cậu được gửi về nhà tràng Kẻ Vĩnh học Latinh. Năm 1834, nhà trường phải giải tán vì vua Minh Mệnh bắt đạo dữ tợn, chú Hưởng về làm thuốc bán rong và ở với ông chú. Trong thời gian ba năm ở nhà này, chú Hưởng vẫn một lòng tu trì, dù ông chú thúc ép lập gia đình và hứa cho hết cả tài sản, ông tổng Phan cũng hứa kiếm vợ cho chú và xếp việc cho làm trong xã.
Khi cơn bắt đạo tạm lắng dịu, đức cha mở chủng viện tại ba nơi là Kẻ Lường, Kẻ Doãn và Bàn Phết, chú Hưởng liền trở về trường ở Kẻ Lường học tiếp, rồi sau về Kẻ Vĩnh. Mãn tràng, chú Hưởng được lĩnh thị làm thầy giảng lần lượt giúp Cha Tuấn ở Kim Sơn, rồi giúp Cha Duyệt tại Bạch Liên. Thầy Hưởng luôn tỏ ra nết na, chăm chỉ làm việc và đơn sơ trong cách ăn mặc. Trong tám năm làm kẻ giảng, không có tiếng xì xầm chê trách thầy mà tiếng khen phục thầy đạo đức thì nhiều. Thầy được bề trên gọi về học lý đoán, mặc dù trí khôn không thông minh nhưng lại có ý chí quyết đoán và chín chắn.
Cha Hưởng thụ phong linh mục ngày nào không có sách nào kể, chỉ biết sau khi làm linh mục, Cha Hưởng tháp tùng đức cha đi giảng ơn toàn xá năm 1851 tại Kẻ Ðầm, họ Quán Khoái và mấy họ lẻ thuộc xứ Kẻ Non. Sau đó đức cha sai ngài về giúp Cha Tường ở xứ Giang Sơn hai năm rồi vào giảng đạo ở Lạc Thổ, một xứ người Mường, khí độc. Sau bốn tháng, cha mắc bệnh sốt rét phải về điều trị trong kinh đô ba bốn tháng cho khỏe rồi lại trở lại nhiệm sở. Trong số những người đi theo cha có một thầy giảng và một chú bị bệnh sốt rét đến thiệt mạng. Sau bốn tháng, Cha Hưởng ra thăm đức cha, đức cha đổi ngài đi giúp Cha Lân ở Yên Lộc hai năm, và sau đó đến giúp Cha Chất ở Bạch Bát nơi ngài đã làm kẻ giảng khi trước.
Cha Phêrô Vũ Văn Ngọc, nghĩa tử của ngài, làm chứng rằng: "Cha Hưởng rất mực thước và sốt sắng làm việc bổn phận. Mỗi sáng ngài nguyện ngắm và dọn mình làm lễ lâu cả giờ. Khi làm lễ thì nghiêm trang sốt sắng. Sau lễ ngài còn quì gối cám ơn lâu. Cha rất siêng năng giải tội, ai đến lúc nào thì giúp họ lãnh nhận bí tích lúc ấy, có khi giải tội cho đến nửa đêm cho tới khi không còn người nào nữa mới thôi. Có ai mời đi kẻ liệt là ngài bỏ giở việc đang làm để đi ngay không kể nắng mưa hay giữa đêm". Khi coi sóc các chị dòng Mến Thánh Giá ở Bạch Bát, cha hay khuyên bảo họ: "Chị em đã dâng mình cho Ðức Chúa Trời trong nhà dòng thì đừng để lòng trí nghĩ đến những sự thế gian, phải siêng năng kêu cầu với Ðức Mẹ cho được lòng khiêm nhường nhịn nhục, hòa thuận yêu thương nhau và được ơn trung thành ở trong nhà dòng cho đến trọn đời". Ngoài ra Cha Hưởng có lòng ước ao được chịu tử đạo, trong phòng treo hình Ðức Cha Borie Cao chịu tử đạo.
Tháng 11-1855 vào mùa Vọng, Cha Chất và Cha Hưởng đi cấm phòng. Về sau này khi Cha Hưởng bị bắt, Cha Chất nói rằng: "Khi người ở họ Ðai Vương xuống rước đi kẻ liệt thì chúng tôi mới cấm phòng được năm ngàỵ Tôi thấy ngài cấm phòng và xưng tội sốt sắng lạ thường, cho nên khi được tin ngài bị bắt tôi nghĩ ngay rằng Ðức Chúa Trời muốn cho ngài dọn mình chịu chết vì đạo, mới mở lòng cho ngài cấm phòng sốt sắng như vậy". Cha Hưởng đang cấm phòng nhưng có người mời đi kẻ liệt, tức tốc đi ngay không có thầy hay chú nào đi theo. Cha đi bộ qua Quảng Nạp rồi tới Cầu Mễ để xuống thuyền đi Ðại Vương. Cha và giáo dân chèo thuyền ngang làng Vân Ru, Trà Tu thì gặp phó tổng Thùy đang đốc công xây cống. Một người nhà thấy thuyền có mui thì nói ngay là thuyền của cụ đạo. Ông phó tổng Thùy liền cho lính rượt theo để bắt hầu mong kiếm tiền chuộc. Bị rượt theo gấp quá, Cha Hưởng bảo giáo dân ghé vào bờ bên kia để trốn, nhưng vì sông cạn, lính lội xuống đuổi theo và bắt trói cha với ba giáo dân. Chính phó tổng muốn ăn tiền nên nhắn người báo tin cho giáo dân Bạch Bát biết cụ Hưởng bị bắt. Phó tổng đòi 500 quan tiền, nhưng cha già mới liệu được có 300 cho người gánh lên trước, nhưng chẳng may tiếng đồn bắt được đạo trưởng đã lên tới huyện nên phó tổng chẳng dám ăn tiền nữa. Ðêm ấy Cha Hưởng phải đeo gông bằng gỗ lim rất nặng, rồi ba ngày sau bị giải lên huyện Yên Mô. Quan huyện cũng chẳng dám ăn tiền hối lộ nói rằng việc này là việc của triều đình không liên quan đến mình rồi lại giải ngài lên tỉnh Ninh Bình. Cha Hưởng đã nhắn tin đừng chạy tiền làm gì vì Chúa đã định rồi và ngài sẵn lòng chịu chết vì đạo.
Theo lời tường thuật của chính ngài viết cho Ðức Cha Retord, thì ở trên tỉnh ngài bị tra khảo cả thảy ba lần. Lần thứ nhất quan án hỏi cha: "Ông là thầy hay đạo trưởng, quê quán ở đâu?"
- "Tôi là đạo trưởng vào tu trong nhà Ðức Chúa Trời ngay từ tấm bé, không còn nhớ tên làng sinh ra nữa, cũng chẳng biết thuộc tỉnh nào".
- "Ngươi phải đạp ảnh chuộc tội để hưởng án nhẹ hơn".
- "Thưa quan lớn, tôi làm đạo trưởng, đi giảng đạo cho người khác, làm sao tôi quá khóa được? Có khi nào con cái dám đạp lên đầu cha mẹ? Tôi thờ phượng Thiên Chúa từ lâu rồi, tôi không thể quá khóa, quan muốn chém hay làm gì thì làm".
Quan thấy không ép ngài quá khóa được thì bắt lính cầm đầu gông mà khiêng qua. Thấy cha co chân lên, quan bắt thêm lính đến kéo ghì chân xuống cho đụng vào ảnh. Cha Hưởng phân phô: "Thưa quan, đạo tôi là đạo tại tâm, dù quan lớn có ép tôi đạp tượng Chúa mà tôi không thuận theo thì cũng chẳng có tội gì".
Quan án thôi không ép nữa nhưng bắt cha khai tên các nơi đã đi và tên các cha trong tỉnh. Cha cúi đầu lặng thinh. Quan tức giận la lối mắng nhiếc thậm tệ rồi truyền giam vào tù.
Hôm sau cả ba quan lớn, quan đầu tỉnh, quan án và quan lãnh binh ngồi nghị án. Lần này quan tuần hỏi cha các hoạt động từ trước, cha lần lượt kể sơ qua khi còn nhỏ, tới lúc làm đạo trưởng thì ngài chỉ nói rằng có lệnh vua cấm đạo nên đi lang thang nơi này nơi nọ làm thuốc cứu người cho tới khi bị bắt ở Trà Tu. Quan truyền nọc ra đánh một trăm roi và bắt quá khóa. Thấy cha một mực xưng đạo, quan dụ dỗ: "Ông hãy quá khóa đi, tôi cho về coi chùa Non Nước trong tỉnh".
- "Bẩm quan lớn, tôi không biết Ðức Phật thì coi chùa làm sao được?"
- "Tại sao khi người ta ốm đau, các đạo trưởng đến khoét mắt đem về làm thuốc cho người ta mến và theo đạo?"
- "Bẩm quan, điều ấy không đúng, bên Phật họ ghét đạo nên bỏ vạ cho chúng tôi như vậy. Những người kẻ liệt thì cũng một nửa còn sống, nếu khoét mắt thì họ mù làm sao còn xem được nữa. Vì khi còn khỏe người ta hay dùng ngũ quan mà phạm tội nên khi ốm đau chúng tôi đến xức dầu thánh nơi con mắt và chân tay để trừ tội và ma quỉ chứ không làm sự gì khác".
Sau đó quan tuần bắt cha đọc kinh. Sau khi nghe đọc kinh mười điều răn, quan tuần khen là đạo dậy những điều thậm phải, nhưng bên đạo bất kính tổ tiên, đó là một tội rất nặng, gông đang đeo có nặng cũng chưa tương xứng với tội bất kính tổ tiên.
- "Thưa quan, bên đạo chúng tôi không kính cha mẹ cũng là một điều bỏ vạ. Người lương lấy cơm, cá thịt mà cúng ông bà cha mẹ đã qua đời, còn chúng tôi không dùng những thức ăn mà cúng vì đã biết ông bà cha mẹ chết rồi không ăn được nữa, không được hưởng nhờ gì các thức ăn đó, nhưng chúng tôi nhớ đến cha mẹ ông bà sáng tối hàng ngày cầu xin cho các ngài được hạnh phúc trên thiên đàng, hơn nữa chúng tôi tuân giữ các lời cha mẹ đã răn dậy để giữ tiếng tốt cho các ngài".
Quan tuần nghe vậy thì im lặng không bắt bẻ được nữa, truyền mang ngài về trại giam.
Cha Hưởng còn bị tra khảo lần thứ ba với những câu hỏi như lần thứ nhất và bắt ép quá khóa. Cha Hưởng nhất mực không chịu làm theo và cương quyết thà chịu chết hơn chối đạo. Lần này các quan giận truyền nọc ra đánh bốn chục roi, cứ sau mười roi quan lại hỏi xem có chối đạo không. Trong khi đó thợ lại đốt lò rèn như sắp sửa tra khảo bằng kìm nung đỏ. Cha Hưởng hết lòng cầu xin Chúa Giêsu và Ðức Mẹ giúp sức. Nhưng khi đánh đủ 40 roi rồi, các quan truyền tháo cọc và viết án gửi về kinh. Các quan đã ăn tiền đút để làm án nhẹ là đạo mục bất khẳng quá khóa, luận phải phát lưu. Khi đưa cho Cha Hưởng ký, ngài đọc thấy các quan khép án là đạo mục thì không chịu: "Tôi là đạo trưởng và có khép án đúng như vậy tôi mới ký".
Quan còn viết đi viết lại ba lần với án đạo mục, nhưng Cha Hưởng nói: "Thưa quan lớn, quan thương muốn chữa cho tôi khỏi chết thì tôi đội ơn nhưng cho dù quan có cứu tôi khỏi chết thì cũng không cứu tôi khỏi đi đầy, cho nên tôi thà chết còn hơn phải sống khốn nạn ở chốn lưu đầy. Vậy xin quan thương mà khép án đạo trưởng bất khẳng xuất giáo cho".
Thế là các quan buộc lòng khép tội Cha Hưởng là "đạo trưởng bất tường quán chỉ, bất khẳng quá khóa, luận trảm quyết".
Trong tù, Cha Hưởng viết thơ thăm Ðức Cha Retord, thuật lại các chi tiết các lần tra khảo và xin đức cha đừng chạy tiền chuộc, chỉ xin đức cha cầu nguyện cho được chịu khó đến cùng và được thắng trận toàn công. Trên tỉnh, cha được đổi gông khác nhẹ hơn và chỉ bị giam ở trại lá chứ không bị giam trong ngục với các tù nhân. Thường xuyên có Thầy Bá, Thầy Hiền thăm nuôi. Ông đội canh là người vốn hiền lành nên cũng đã nói với lính không làm khổ cha và để giáo dân ra vào dễ dàng. Thầy Thuần có hỏi xem án cha chịu như thế nào mà cha vui mừng hớn hở. Cha cho biết là sẽ phải chết nhưng không biết cách nào và khi nào, rồi khuyên các thầy chịu khó bền lòng giữ đạo và giúp đỡ ngài, sau khi chết được lên thiên đàng ngài sẽ cầu nguyện với Chúa trả công cho. Dân chúng đến thăm thấy ngài mang gông thì khóc lóc, ngài khuyên họ: "Cha mang gông và phải tù vì đạo thánh là phúc trọng phải vui mừng, chúng con ra sức giữ đạo theo chân Chúa Giêsu để về sau cha con lại được gặp nhau trên thiên đàng". Hoặc cha nói: "Gông cha mang đây thật là hoa thơm tho Ðức Chúa Trời đã ban, các con phải cầu xin cho cha được chịu khó cho đến cùng".
Cha bắt các thầy và các chị dòng mỗi lần mang nhiều đồ ăn để ngài chia sẻ cho lính hay các bạn tù và những người nghèo đến xin ăn. Có một lần cha còn bắt may quần áo để phát cho các bạn tù, và xin tiền riêng để làm phúc cho kẻ khó. Ngoài ra cha sốt sắng đọc kinh sáng tối và mỗi khi có giờ rảnh. Cha được Cha Khoan đến giải tội và mang Mình Thánh Chúa. Vui mừng được gặp linh mục nhưng cha sợ xảy ra chuyện khó khăn nên giục Cha Khoan về ngay sau khi đã được rước Mình Thánh. Như vậy tất cả là ba lần.
Ngày 25-4, án triều đình về tới Ninh Bình. Bản án viết: "Nguyễn Văn Hưởng, 54 tuổi, người tỉnh Hà Nội, nhưng không rõ quê quán, đã theo tà đạo Giêsu và xưng nhận là đạo trưởng. Bị tra khảo vẫn còn cố chấp không chịu bỏ đạo và đạp ảnh vì thế phải trảm quyết tức khắc". Ông đội canh liền báo cho cha và các người thăm nuôi. Cha Hưởng ăn chay suốt ngày để chuẩn bị. Tới ngày xử, Cha Khoan còn đến đưa Mình Thánh và giải tội lần sau hết. Sáng hôm ấy ông đội canh dẫn vợ con vào tù chào Cha Hưởng và nói những lời rất cảm động: "Mặc dù tôi không theo đạo nhưng tôi biết rõ các linh mục vô tội, ở Nghệ An tôi cũng đã phải canh một linh mục. Tôi không dám làm khổ nhưng bây giờ phép triều đình đem cụ đi xử thì xin khi về thiên đàng nhớ đến chúng tôi với".
Cha Hưởng từ giã ông cai đội như sau: "Tôi rất biết ơn lòng tốt của ông, phần tôi, tôi đi về với Chúa, ông và gia đình ở lại bằng an".
Quay sang các bạn tù cha nói tiếp: "Giã biệt các anh em, chúng ta đã có dịp chia sẻ và hàn huyên trong nhiều ngày, bây giờ theo lệnh vua, tôi đến nơi hành quyết nhưng anh em nhớ cho kỹ tôi bị chém chỉ vì tôi đã giảng đạo Chúa Giêsu mà thôi".
Im lặng một lúc, ngài nói tiếp: "Dù anh em phải hành hạ thế nào, anh em hãy cầu nguyện cho chính quyền và bây giờ xin anh em ở thinh lặng để tôi có thể cầu nguyện dọn mình".
Ðến trưa quan giám sát dẫn năm chục lính đến trại lá nơi giam cha để đem đi xử, quan cho phép giáo dân thuê người khiêng võng đưa cha ra tới nơi xử ở cánh đồng gần núi Cánh Riều. Theo sau có đông người thì thầm với nhau: "Tại sao người tốt lành, không can tội gì lại bị vua quan kết án tử hình như vậy?"
Tới nơi cha quì trên chiếu do ông Phu, sãi nhà thờ Bạch Bát, trải xuống. Khi ngài cầu nguyện xong, quan truyền lệnh lý hình nghe chiêng thì chém. Hôm ấy là ngày 27-4-1856. Sau khi chém rồi, dân chúng lương giáo ùa vào thấm máu nhưng bị lính đánh đập rất ngặt. Thầy Bá được quan cho phép nhận xác để mang về an táng tại Kẻ Vĩnh theo lệnh của đức cha. Tới đêm, thuyền chở xác mới dám vào Vĩnh Trị. Tại đây Cha Tịnh và các thầy nhà trường mặc áo rước xác ngài đưa vào nhà thờ Thánh Phêrô rồi đóng cửa không cho giáo dân vào, vì sợ gây xôn xao. Sáng hôm sau Cha Tịnh mở quan tài cho người nhà xem mặt rồi làm lễ an táng trong gian thứ ba, dưới mộ của cố Hương ở gian thứ hai.
(vncatholic.org)
Trường Thi Tử Đạo
Linh mục Hưởng quê hương Kẻ Sải
Năm Nhâm Tuất (1802) sinh tại Thăng Long Gia đình nghèo sống long đong Nay đây mai đó quanh vòng chăn trâu Cho ông chủ nghe đâu ngoại đạo Tên là Thang khuyên bảo dưỡng nuôi Ông quý mến thật êm xuôi Như là con ruột, khôn nguôi học hành Cậu Hưởng muốn tuổi xanh trọn vẹn Quyết dâng mình, hứa hẹn Chúa trên Vào Cha Duyệt Xứ Sơn Miêng Ðỡ đầu giúp đỡ ơn riêng hộ phù Ở nhà xứ ba thu học tập Ðược gởi đi gia nhập chủng sinh Nhà tràng Vĩnh Trị dâng mình Sau bị giải tán rối tinh về làng Cậu làm thuốc lang thang bán dạo Sống qua ngày học đạo hiểu thêm Có ông Chú nói cậu nên Gia đình thành lập nhà bên ông nhường Một cai tổng cũng thương giúp cậu Có họ hàng hứa tậu ruộng nương Vợ con, nhà cửa thân thương Cậu đều từ chối, theo đường chủng sinh Ông Chú giận, bực mình đã đuổi Cậu trở về đúng buổi mở tràng Ðời tu rộng mở thênh thang Ðược phong Thầy Giảng lên đàng giảng rao Kim Sơn, Bạch Bát bao năm tháng Thầy khiêm nhu xứng đáng Tông đồ Sau về thần học tiến vô Thụ phong Linh Mục tiền hô rao truyền Ði phục vụ khắp miền giáo xứ Ðược bề trên cắt cử bài sai Khắp nơi giáo hữu mến Ngài Siêng năng tận tụy lâu dài bệnh nhân Có lần nọ Cha cần đò chở Thuyền Cha đang đi ở giữa sông Tổng Tùy bệ hạ rất đông Rượt theo đuổi bắt Cha không sợ phiền Bảo người lái cập liền vô bãi Rồi lái đi xa mãi xuôi dòng Cha đi rảo bộ thong dong Nép mình tự nguyện vào vòng tội nhân Cha về huyện tinh thần sảng khoái Từ Yên Mô lại giải Ninh Bình Ông quan tỉnh rất chân tình Nếu Cha quá khóa thì mình giúp ngay Ðến trụ trì Chùa này Non Nước Cha đáp ngay sao được thưa quan Làm con hiếu thảo vững vàng Ðạp đầu cha mẹ thuộc hàng bất trung Thưa quan tỉnh đâu cùng đạo Phật Sao ở Chùa thành thật cảm ơn Quan trên chớ nghĩ giản đơn Mười điều Chúa dạy hồng ân thế trần Quan muốn biết xin cần học hỏi Ðồn lạc sai chớ nói giỡn đùa Tổ tiên kính nhớ người xưa nguyện cầu xin lễ đâu ưa đốt vàng Các giáo hữu lên quan lo chuộc Nhận bạc rồi nên buộc giấu che Cha Hưởng nhất quyết không nghe Viết thư Giám Mục con e chuộc tiền Mạng sống con ưu tiên dâng hiến Là chứng nhân bánh miến rượu nho Giêsu xin Chúa ban cho Hồng ân tử đạo đầy no phúc lành Cha Hưởng đợi lính canh dẫn giải Ra pháp trường hăng hái chứng nhân Lý hình đã tiến lại gần Sau hồi chiêng trống tiếp phần đầu rơi Giáo dân đón rước nơi an táng Về ngay làng buổi sáng trong ngày Quê hương Vĩnh Trị xưa nay Chứng nhân tử đạo chốn này rất đông Là linh mục quyết không lùi bước Năm Bính Thìn (1856) cha được hồng ân Tử vì đạo chẳng tiếc thân Suy tôn Kỷ Dậu (1909) xa gần mến yêu Lời bất hủ: Cha Hưởng trả lời quan lớn: "Bẩm quan lớn có bao giờ con cái dám đạp lên đầu cha mẹ mình chăng?". Có lần quan dỗ dành: "Nếu ông đạp lên Thánh giá, ta sẽ cho đến trụ trì ở Chùa Non Nước". Cha đáp: "Tôi không biết gì về thần Phật, làm sao ở Chùa được". Quan lại hỏi: "Tại sao các ông khoét mắt người bệnh, và không thờ kính tổ tiên?". Cha bình tĩnh giải thích cho quan: "Xin quan đừng nghe những lời đồn đãi sai lạc, chúng tôi chỉ xức dầu trên mắt mũi, tai miệng và tay chân để xin Chúa tha các tội mà bệnh nhân đã dùng để phạm tội, còn với tổ tiên, chúng tôi hằng cầu nguyện bằng các việc lành, chỉ có điều là chúng tôi không cúng quả, vì biết rằng cha mẹ chẳng trở về ăn uống thứ gì được nữa". | |
Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012
Giuse Phạm Trọng Tả (1792-1859)
Giuse Phạm Trọng Tả (Cai), Sinh năm 1796 tại Quần Cống, Nam Ðịnh, Giáo dân, Cai Tổng, bị xử giảo ngày 13/01/1859 tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, Đức Piô XII đã suy tôn ba anh hùng tử đạo : Đaminh Phạm Trọng Khảm, Giuse Phạm Trọng Tả, Luca Phạm Trọng Thìn lên bậc chân phước ngày 29-04-1951. Ngày 19-06-2002, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các Ngài lên hàng hiển thánh., lễ kính vào ngày 13/01.
| |
Giuse PHẠM TRỌNG TẢ (1800-1859) - Luca PHẠM TRỌNG THÌN (1820-1859) - Chánh Tổng
Cuộc đời của hai ông Cai Tả, Cai Thìn tuy cách biệt nhau 20 tuổi đời, nhưng đã hòa lẫn với nhau trong cùng bối cảnh lịch sử thời tử đạo, một vị là cựu, một vị là Chánh Tổng làng Quần Cống. Phải làm gì bây giờ chắc chắn hai ông đã phải bàn luận với nhau rất nhiều, để cùng với sự ủy thác của đức Cha Sampecro Xuyên, giám mục giáo phận Trung khi đó, hai ông chọn giải pháp hòa bình bằng phương thế đối thoại. Một mặt với uy tín riêng, các ông trấn an các tín hữu. Mặc khác quan hệ với quan tổng đốc để gợi lên quan tấm lòng nhân ái và quãng đại. Rất tiếc, đường lối đó không đạt như sở nguyện, nên hai ông đã trả giá cho sứ mạng hòa giải bằng chính mạng sống của mình.
Giuse Phạm Trọng Tả sinh khoảng năm 1800 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân trường tỉnh Nam Định. Cai Tả là anh em thúc bá với thánh Án Khảm, là con Đaminh Phạm Thăng. Khi bị bắt ông đã 60 tuổi, là một kitô hữu đạo đức, một hội viên dòng ba Đaminh và là cựu chánh tổng đã chu toàn chức vụ của mình. Phụ lực với cháu Cai Thìn, ông tìm cách giúp mọi người sống đạo trong hoàn cảnh khó khăn. Gia phả con cháu ghi rằng : "Đầy tớ ông rất đông, chưa tết ông đã đi thăm viếng từng nhà và cho tiền mừng rất hậu. Số tiền ấy thường gấp đôi số quà cáp họ biếu xén ông trong năm. Tiền thóc gia nhân vay mượn ông thường cho một nửa, nếu túng quá thì cho luôn. Công nợ của dân trong làng cũng châm chước như thế. Khi bà cai lên tiếng cằn nhằn, ông thản nhiên trả lời 'mình quên nợ người chúa quên tội mình'".
Luca Phạm Trọng Thìn là con trai cụ An Khảm, sinh khoảng năm 1820 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường tỉnh Nam Định. Như ta đã biết về cụ An Khảm, dưới mái nhà gia giáo và khá giả này, cậu Thìn đã lớn lên trong bầu khí đạo đức, được ăn học thành người. Nhờ trí khôn thông minh nhanh nhậu và chăm chỉ chuyên cần chẳng bao lâu anh đã "công thành danh toại". Khi bị bắt ông Cai Thìn khoảng 40 tuổi và đang là Chánh Tổng, vừa quyền thế vừa uy tín. Thực ra khi mới lên chức vụ này, vì giao tiếp với quan lại nhiều, có thời kỳ ông có vợ nhỏ là cô Trung người Trà Lũ, nên thờ ơ việc đạo nghĩa (vợ chính ông Cai Thìn là bà Maria Tâm). Nhưng sau nhờ lời khuyên của thân phụ, nhất là của cha giải tội, ông đã thành tâm sám hối. Từ đó ông trở thành một mẫu gương thánh thiện, một gia trưởng và một hội viên dòng ba Đaminh đạo đức, một thủ lảnh đáng tin cậy.
Năm 1858, tình hình bắt đạo đang gia tăng, và liên quân Pháp-Tây Ban Nha đang đe dọa dân Việt ở Đà Nẵng, vua Tự Đức thêm phẫn nộ ra lệnh cho quan quân triệt để thi hành các sắc chỉ nhắm vào đạo gia tô. Nhưng thực tế việc việc thi hành này lệ thuộc nhiều vào các quan địa phương có sốt sắng hay không. Lợi dụng điều đó, Đức Cha Sampedro Xuyên đã ủy thác cho Cai Tả và Cai Thìn trọng trách sứ giả hòa bình, vì cũng thuộc thành phần lãnh đạo, dễ dàng tiếp xúc với cấp trên.
Hiểu ý Đức Cha và nắm tình hình các tín hữu Quần Cống, hai ông đã đến gặp trực tiếp Tổng Đốc Nam Định, xin ông nương tay cho các tín hữu được bình an, và hứa kêu gọi dân chúng trung thành với đức vua. Cuộc thương thuyết sắp thành công, nhưng không ngờ lúc ấy tại Cao Xá, một người vì bất mãn chính sách của nhà vua, đã xúi dục một nhóm người nổi loạn chống lại các quan địa phương. Thế là vị Tổng Đốc liền đổi ý, ra lệnh tiếp tục truy lùng các thừa sai, các đạo trưởng và các giáo hữu có uy tín trong dân. Quan kết án Cai Tả, cai Thìn là lừa dối và tìm dịp để bắt hai ông. Chúng ta sẽ biết cơ hội để quan thực hiện ý đồ đó trong phần sau.
Ba lần ra trước tòa, cả ba lần hai ông đều cương quyết không bước qua Thập Giá, dù bị dọa nạt đánh đập. Khi quan yêu cầu hai ông viết những suy nghĩ của mình lên giấy, Cai Thìn đã viết bảng tuyên xưng Đức Tin rõ rệt và can đảm như : "Tôi là một Kitô hữu, tôi sẳn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết điều này Luca Thìn".
Ông Cai Tả không cương quyết không xúc phạm Thánh Giá, ông còn khuyên bảo mọi người đừng phạm thứ tội mà ông gọi là "ghê tởm" đó .
Nếu Đức Giêsu Hoàng Tử Bình An đã dùng Thánh Giá khổ nhục để hòa giải nhân loại bạc bẻo với Chúa Cha thì cuối cùng, hai ông Cai Tả và Cai Thìn sẽ mãi mãi là sứ giả Hòa Bình bằng cái chết để chứng tỏ lòng mình luôn trung tín với Thiên Chúa và trung thành với Giáo Hội.
* *
*
Năm 1858 khởi đầu cho giai đoạn 5 cuộc bách hại đạo gay gắt nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam. Nhà vua treo giải thưởng xứng đáng cho những ai tố cáo nơi trú ẩn của các vị thừa sai Âu Châu và ngược lại sẽ trừng trị đích đáng những kẻ chứa chấp họ. Thế là các Ngài phải nay đây mai đó, trốn từ làng này qua làng khác. Quần Cống là một nơi ẩn náu khá an toàn, vì các chức sắc trong làng là ngừơi Công Giáo, và chính họ sẵn sàng đón tiếp các Ngài. Đức cha Sampedro xuyên, đại diện tổng tòa giáo phận Trung dự đoán có thể bị bắt bất ngờ, đã thủ phong giám mục phó cho Đức cha Valentino Vinh ngày 14-06 tại ninh Cường, hai cha Riano Hòa và Carrerras Hiển là phụ phong. Sau đó cả bốn vị đều ẩn tại làng Quần Cống, trọ tại nhà cụ An Khảm, Cai Tả và Nhiêu Côn.
Quan An sát Nam Định được mật báo làng Quần Cống chứa chấp Tây dương đạo trưởng, liền huy động quân lính đến vây bắt. Nhưng cụ An Khảm kịp biết tin, vội vàng tìm cách đưa các vị thừa sai trốn khỏi làng. Đức cha Vinh và hai Linh mục qua làng Trà Lũ. Đức cha Xuyên đi qua Kiên Lao (ngày 08-07 mới bị bắt). Sau khi các thừa sai đã đi xa, cụ cho mỏ làng đi trước, đích thân cầm roi đi sau, bắt mõ làng rao lớn tiếng : "Trình quan viên làng nước, có lệnh cụ Án truyền rằng : người nào quá khóa phải phạt ba roi và bị đuổi ra khỏi làng." Rồi cụ tụ tập dân lại khích lệ họ.
Sau đó, quan quân ùa vào làng, họ bắt toàn thể dân làng tập trung lại, và rồi gọi cụ An Khảm ra trình diện và nói : "Mau nộp ngay lập tức các đạo trưởng Tây dương và bản quốc, cũng như bọn thầy giảng lẩn trốn trong làng. Nếu bất tuân lão sẻ bị bắt, bị tịch thu tài sản, nhà cửa sẽ bị thiêu hủy, còn chíng lão sẽ bị kết tội chống cưỡng nhà vua." Cụ An Khảm hết sức bình tĩnh vì biết chắc các thừa sai đã trốn xa rồi, cụ mạnh bạo trả lời : "Đúng, đạo chúng tôi có các đạo trưởng nhưng các ngài ở đâu làm sao chúng tôi biết được. Xin quan cứ tự do lục soát nếu tìm thấy vị nào trong làng thì quan muốn làm gì cũng được."
Thế là quân lính chia nhau lục soát khắp ncả nhà, dĩ nhiên là không tìm thấy một linh mục. Nhưng lính lại phát hiện được một số tượng ảnh, áo lễ nên chủ nhà bị kết tội là chứa chấp đạo trưởng. Cụ An đã đứng ra nhận là mình đã mua những thứ đó. Tuy vậy quan vẫn ra lệnh bắt trói cả nhà.
Trở lại nơi tập trung dân làng, quan An sát cho đặt một Thánh Giá ngay giữa sân, rồi bắt mọi ngừơi lần lượt bước qua. Nhưng quan đã thất bại dù lính có đi tới đi lui đe dọa, toàn thể dân làng không một ai bước qua Thánh Giá. Một bô lão có lẽ vì quá sợ, run rẩy tiến lên vài bước, định thi hành lệnh quan, nhưng cụ An nhanh chân hơn cản lại và khiển trách. Viên quan tức giận quát lên rằng : "Ta sẽ mất chức nếu không kết tội đươc An Khảm và bọn người vô phúc này." Thế rồi quan lại bắt trói An Khảm, Cai Tả và Cai Thìn và một số người khác, rồi giải về Nam Định, riêng cụ An được chở đi trong thuyền của quan.
Chúng tôi được nước Thiên Đàng
Về tới Nam Định, hai cha con cụ An Khảm được gặp nhau trong những lần ra tòa, và sau này được giam chung. Hai cha con vui mừng và xúc động khuyến khích nhau chịu khổ vì lòng kính mến chúa Kitô.
Tất cả những tù nhân Quần Cống hẹn với nhau quyết tâm trung thành với đức tin, dù phải hy sinh mạng sống. Riêng cụ An Khảm đã nhiều lần đại diện cả nhóm trả lời với quan, đã tìm cách giáo lý trong đạo.
Một hôm sau khi bắt được Đức Cha Xuyên, quan cho dẫn ba ông đến trước mặt Đức Cha. Các ông kính cẩn chào hỏi và không dấu được niềm vui gặp lại vị chủ chăn của mình. Thấy thế quan phỏng đoán và kết tội các ông chứa chấp vị thừa sai này. Tuy thực sự Đức Cha đã ở nhà mình, cụ An Khảm tìm cách trả lời chung chung : "Là ngừơi tín hữu, chúng tôi tôn kính và yêu mến bất cứ một linh mục nào, dù chưa hề quen biết."
Sau bốn tháng rưỡi bị giam, một hôm quan báo cho biết là cả ba vị đều bị kết án xử giảo. Ông Cai Thìn hỏi lại án đã kết tội gì, quan cho hay là tội chống lại nhà vua. Ong Thìn cực lực phản đối. Cuối cùng theo đề nghị của ông, bản án được viết thêm bốn chữ "bất khẳng quá khóa"; nghĩa là tội không chịu bước qua Thập Giá. Các ông vui mừng hân hoan vì được chết cho Đức Kitô. Và trong những ngày còn lại, các ông chuẩn bị sốt sắng đón chờ ngày lãnh nhận hồng phúc tử đạo.
Ba vị chứng nhân đức tin đã cảm nghiệm sâu xa lời Đức Kitô chúc phúc cho những người bách hại vì danh Ngài. Đối với ba vị, bị bắt chịu khổ nhục, bị giết vì danh Đức Kitô là niềm vinh phúc lớn lao. Các vị đã hân hoan đón chờ nó, đồng thời khích lệ an ủi các tín hữu khác. Và khi nghe báo giờ xử tử đã tới, cụ An Khảm vui vẻ nói với mọi người : "Cha con chúng tôi hôm nay được nước Thiên Đàng". Cả ba vị đã sẵn sàng giả từ trần gian để về hợp đoàn với hàng ngũ các thánh Tử Đạo, và mở rộng đôi tay đón nhận phần thưởng vinh phúc Chúa đã hứa ban cho những tôi trung của Ngài.
Ngày 13-01-1859, ngoài ba vị An Khảm, Cai Tả và Cai Thìn còn có bảy giáo hữu làng Quần Cống khác được đưa ra pháp trườngBảy Mẫu, Nam Định. Trên đường đi các vị lớn tiếng đọc kinh. Đến nơi xử các vị tiếp tục đọc kinh Tin, Cậy, Mến và nhiều lần kinh Ăn Năn Tội chung với nhau, rồi lớn tiếng kêu Chúa Giêsu.
Quân lính mạnh tay xô các vị té ngửa trên đất, rồi trói chân tay từng người vào cọc đã chôn sẵn. Mỗi người bị hai người lính cầm hai đầu dây thừng tròng qua cổ và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở. Các tín hữu làng Quần Cống rước các vị đưa về quê mình, và tổ chức an táng trọng thể.
Đức Piô XII đã suy tôn ba anh hùng tử đạo : Đaminh Phạm Trọng Khảm, Giuse Phạm Trọng Tả, Luca Phạm Trọng Thìn lên bậc chân phước ngày 29-04-1951. Ngày 19-06-2002, Đức Gioan Phaolô II suy tôn các Ngài lên hàng hiển thánh.
Nguồn từ tu viện Đa Minh
Trường Thi Tử Đạo
Cựu Chánh Tổng ông Phạm Trọng Tả
Chọn quan thầy Thánh cả Giuse Gia đình sung túc đề huề Canh Thân (1800) năm đẻ thuộc về Phú Nhai (Nam Ðịnh) Làm Chánh Tổng công khai sống đạo Việc ngoài đời thông thạo an dân Tiếng thơm nổi khắp xa gần Hể ông mà nói là dân nghe liền Trong công việc bạc tiền không tưởng Bởi thế nên ảnh hưởng càng cao Từ ngày cấm đạo phong trào Trăm nghìn việc khó đổ vào cho ông Làm thế nào để không bắt bớ Làm thế nào để đỡ giáo dân Cha con bàn bạc xa gần(1) Dĩ hoà vi quý phải cần làm ngay Phạm Trọng Tả mấy ngày tiếp xúc Tình hình ta mỗi lúc một êm Ai ngờ cháy đổ dầu thêm Công xá một nhóm nửa đêm công đồn(2) Gặp Trọng Tả quan dồn tra hỏi Việc xảy ra đây hỏi tại ai Mưu sâu ông sắp sẵn gài Bắt luôn tra tấn một hai chạy trời Ông bị bắt dân thời thương tiếc Rất hoan nghênh những việc ông làm Thế trần của cải chẳng ham Xoá nợ, giảm lãi việc làm của ông Bà thấy thế như không đồng ý Ông nói làm theo chỉ đạo Cha Hôm qua mình tội Cha tha Hôm nay người nợ bỏ qua được rồi Còn những việc tày trời hơn nữa Quan tập trung dân giữa sân trường Trưa hè trời nắng thảm thương Ðặt cây Thập giá giữa đường bước qua Trong lúc đó trẻ già trai gái Còn phân vân ngần ngại biết sao? Ngoài xa ông nhảybổ vào Ai mà quá khoá thì tao đánh đòn Quan thấy thế chẳng còn ngần ngại Bắt trói ông giam tại huyện đường Ðánh đập tra tấn thảm thương Làm đơn đề nghị tỉnh đường xử ngay Kỷ Mùi (1859) tháng một Mùa chay Phúc tử vì đạo đúng ngày mười ba Tân Mão (1951) Toà Thánh ban ra Tấn phong Chân phước hoan ca Nước Trời
---------------
1/ Cha con bàn việc với Ðức Cha Xuyên. 2/ Ở Công Xá có một nhóm quá khích nổi dậy. Lời bất hủ: Vị thánh đã tuyên xưng đức tin của mình trước quan, qua bản viết như sau: "Tôi là một Kitô hữu, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ". | |
Luca Phạm Viết Thìn (1820-1859)
Luca Phạm Viết Thìn (Cai), Sinh năm 1820 tại Quần Cống, Nam Ðịnh, là một giáo dân, giữ chức vụ Cai Tổng, bị xử giảo ngày 13 tháng 1 năm 1859 cùng với cha của mình la Đaminh Phạm Trọng Khảm tại Nam Ðịnh dưới đời vua Tự Ðức, được phong Chân Phước ngày 29/04/1951 do Ðức Piô XII, lễ kính vào ngày 13/01.
| |
Thánh Luca Thìn, tên được viết là Phạm Viết Thìn theo bản án của triều đình, là con của cụ quan án Ða Minh Khảm và bà Agnes Phương, thuộc họ Ðức Bà xứ Quần Cống, tỉnh Nam Ðịnh. Nhà giầu nên ngài được học hành đến nơi đến chốn, làm chánh tổng mới có 30 tuổi. Ngài lập gia đình với cô Maria Tâm. Nhưng chức vụ chánh tổng bắt ngài phải đi nhiều nơi và vì tuổi trẻ ngài đã có vợ lẽ. Sau ba năm bị ốm nặng ngài hứa với Chúa sẽ sửa đổi cuộc sống. Ngài từ bỏ vợ lẽ và theo lời cha giải tội ngài đã sống cuộc đời đạo hạnh.
Ngày 28 tháng 4 năm Tự Ðức thứ mười một (6-1858), Ðức Cha Sampedro nhờ Luca Thìn là người thông thạo quan trường, lên tỉnh Nam Ðịnh xin với quan thượng Tân nhân nhượng cho người Công Giáo, và cam đoan rằng người Công Giáo hết lòng trung thành với vua và không khởi nghịch. Nhưng rủi thay lúc ấy xảy ra vụ một người Công Giáo nổi loạn ở Cao Xá khiến quan thượng Tân giận dữ bắt giam Luca Thìn, và coi người Công Giáo là lũ phản nghịch. Lúc ấy có tin đồn là làng Quần Cống chứa chấp thừa sai nước ngoài, quan ra lệnh đi vây làng Quần Cống. Quả thực lúc ấy có Ðức Cha Sampedro và Cha Estevez đang ẩn trốn ở đây.
Trong khi lính đi vây làng thì Luca Thìn đã bị quan thượng tra hỏi ba lần. Bị ép buộc đạp ảnh thánh giá, Luca Thìn một mực từ chối nên bị xích lại và giam trong tù. Ngài thản nhiên viết tờ giấy nói rõ sự khảng khái của mình: "Tôi sẵn sàng chịu mọi hình khổ kể cả cái chết khổ cực nhất, nhưng không bao giờ chối bỏ đạo của tôi. Chính tay tôi viết. Luca Thìn". Vì thế quan sai thêm lính đến bắt họ hàng của Luca Thìn. Những người ngoại đạo trong tù khuyên ngài chối đạo để giữ của cải và mạng sống. Ngài nói: "Xin các bạn để tôi yên và đừng nói với tôi điều này nữa, tôi thà mất của cải, chịu mọi cực khổ dữ dằn nhất hơn là đang tâm phạm đến ảnh thánh của Chúa tôi. Tôi tuyên xưng rằng tôi không có gì khác hơn là ước muốn được đổ máu ra vì đạo thánh của tôi".
Ðầu tháng 7, cụ án Khảm là cha ngài cũng bị bắt với một số người tín hữu làng Quần Cống và được đem đến Nam Ðịnh. Luca Thìn lại bị các quan đem ra luận xử với cha mình. Thấy cha mình cũng bị bắt vì Chúa thì ngài mừng rỡ chào cha mình và can đảm xưng đạo trước mặt ba quan lớn.
Vài ngày sau, hôm 7-7, Ðức Cha Sampedro cũng bị bắt và giải về tỉnh Nam Ðịnh. Các quan đem Luca Thìn ra đối chất với đức cha. Không sợ các quan, Luca Thìn quì gối kính cẩn chào đức cha, vị chủ chăn khả kính. Quan giận dữ sai đem về ngục, bắt chịu nhiều hình phạt hơn nữa.
Suốt trong bốn tháng mười ngày, các vị anh hùng Quần Cống sống chung với nhau trong cảnh tù đầy, khích lệ nhau can trường.
Ngày 13-1-1859, quan ra lệnh đem các ngài đi hành quyết. Luca Thìn không biết các quan xử mình vì tội gì nên xin được gặp quan lớn. Ngài nói với quan: "Xin quan lớn cho biết vì tội gì mà tôi bị xử tử?"
Quan đáp lại là vì tội phản nghịch, đem thừa sai ngoại quốc vào trong nước. Ngài bác lại: "Chúng tôi có tiếp đón đạo trưởng tây phương và theo đạo Công Giáo, nhưng chúng tôi không bao giờ manh tâm chống lại vua".
Quan lại nói: "Nguyên điều này ngươi cũng đáng chết vì có lệnh của vua cấm theo đạo và ngươi không chịu đạp ảnh".
Ðến đây Luca Thìn nghe biết mình chịu chết vì đạo thì vui mừng khoanh tay chào các quan và xin cho mình được chết vì đạo. Sau đó ngài lấy ảnh thánh giá trong ngực ra cầm ở tay, hiên ngang đi ra pháp trường, như một dấu xưng đạo và thống hối công khai.
Theo thư của Thánh Giám Mục Berrio-Ochoa viết ngày 2-8-1859 thì cùng bị xử trong ngày 13-1-1859 có cha con Thánh Khảm, Thìn, hai anh em cột chèo Giuse Tả, Khoá Sơn và Lý Lê cùng bốn giáo dân khác thuộc địa phận Tây.
Có người cho rằng cụ Án Khảm và Giuse Tả có liên hệ anh em (xin xem báo Trái Tim Ðức Mẹ số 109 tháng 1-1987 trong lá thư ngỏ), sự thực theo các tài liệu chính thức thì không có tài liệu nào nói tới liên hệ anh em giữa cụ Án Khảm và Giuse Tả.
(St)
Trường Thi Tử Đạo
Cai Phạm Trọng Thìn con cụ Án
Trí thông minh xứng đáng Tổng Cai Chuyên cần tầm vóc đẹp trai Quen nhiều quan lại vấp sai lỗi lầm Lòng thay đổi tà tâm vợ nhỏ Là cô Trung, Thìn ngó thấy xinh Quê Trà Lũ đã liều mình Thờ ơ việc đạo, coi khinh vợ nhà Nghe tin đó Bố già khuyên nhủ Cha ngồi tòa khuyên dụ thành tâm Ăn năn sám hối lỗi lầm Thật lòng Chúa sẽ dắt cầm tay con Rồi từ đó vuông tròn trách nhiệm Ông trở thành thánh thiện mẫu gương Gia đình trên thuận dưới nhường Cai Tổng uy tín yêu thương nghĩa tình Thìn với Bố Triều đình cho bắt Cùng giáo dân bị dắt vô tù Nhốt chung tất cả một khu Khuyên nhau chịu khổ đòn thù dã man Cai Thìn hỏi liên can án tội Quan cho hay là lỗi chống Vua Ông đề nghị bốn chữ chua Bất khẳng quá khóa nhà Vua thực hành Họ mừng rỡ vì danh Thiên Chúa Là hồng ân chan chứa ban cho Pháp trường chung một chuyến đò Lý hình xử giảo đầy no ơn lành Thánh Tử đạo lưu danh đất Việt Tưới vun trồng oanh liệt máu hồng Ðức tin cứu độ cậy trông Thiên đàng Chúa thưởng con Rồng cháu Tiên Phạm Trọng Thìn sinh Niên Canh Thìn (1820) Tại Quần Cống áo mão Tổng cai Luca tên thánh của ngài Chịu tử vì đạo tháng hai Kỷ Mùi (1859) Năm Tân Mão (1951) mừng vui Chân phước Bỏ trần gian lãnh được Nước Trời Roma phong thánh cho ngài Lên hàng Á thánh an bài thiên cung Lời bất hủ: "Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng chịu mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Chính tay tôi viết điều này. Luca Thìn". | |
Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011
Anrê Trần An Dũng Lạc (1795 – 1839)
Anrê Trần An Dũng Lạc, Sinh ra trong một gia đình ngoại giáo ở Bắc Ninh năm 1795, Trần An Dũng theo cha mẹ vào Kẻ Chợ, nay là Hà Nội. Sau đó cậu được gán cho một thày giảng nuôi nấng dạy dỗ và rửa tội với tên Thánh là Anrê. Chịu chức Linh mục ngày 15-3-1823, bị xử trảm ngày 21/12/1839 tại Ô Cầu Giấy dưới đời vua Minh Mạng, được phong Chân Phước ngày 27/05/1900 do Ðức Lêô XIII. Lễ kính ngày 21 tháng 12. | |
Ngài là một nhà truyền giáo kiên trì không biết mệt, bằng lời nói và việc làm, tại nhiều giáo xứ cho đến khi bị bắt năm 1835. Giáo dân của ngài quyên góp đủ tiền để chuộc ngài. Sau đó ngài đổi tên từ Dũng thành Lạc để che dấu căn cước, và rời sang một vùng khác để tiếp tục sứ mạng. Trước hết Cha Dũng được sai đi giúp Cha Khiết ở Ðồng Chuối rồi giúp Cha Thi ở xứ Ðoài và Cha Duyệt ở Sơn Miêng. Sau đó Ðức Cha cử ngài làm chính xứ Kẻ Ðầm lúc ngài 40 tuổi. Ở đâu Cha Dũng cũng được mọi người quí mến vì ngài đối xử khôn khéo lại giảng đạo sốt sắng. Ngài rất nhiệm nhặt trong việc ăn mặc, Mùa chay, ngài ăn chay mọi ngày, nhiều khi cả những ngày thứ Tư và thứ Sáu trong năm nữa. Trong thời kỳ bị cấm đạo Cha Dũng phải trà trộn ở trong nhà giáo dân, nếu họ dọn cơm thịt hay cá lớn thì ngài trách: “Ðừng làm như vậy, hãy mua tôm tép như thường dân khác mà ăn”. Cha Dũng còn có lòng thương giúp những người nghèo túng. Khi được mời đi kẻ liệt, ngài đi một mình để tránh cho các thầy khỏi bị bắt. Khi không đi làm phúc được, Cha Dũng thường sai các các thầy đi các nơi để thăm hỏi và khuyên bảo giáo dân tìm đến ngài mà xưng tội. Lúc ngài coi xứ Kẻ Ðầm thì các nhà chung đã phải rỡ hết. Năm 1835 ông Lý Nhâm vì ghét Tổng Thìn là người có đạo, muốn cho ông phải tội đã đem lính đến bắt Cha Dũng cùng với 30 giáo dân đang xem lễ ở Kẻ Sui. Ông Tổng Thìn phải đưa 6 nén bạc cho quan huyện Hào Khánh ở Ðôn Thư xin liệu việc với quan phủ cho khỏi án. Quan huyện lấy 4 nén còn hai nén cho người nhà quan phủ và trình rằng: “Cậu tôi về xem lễ ở Kẻ Sui mà quan bắt thì xin tha”. Cha Dũng được tha về còn những người khác bị giam lại 21 ngày. Sau đó Cha Dũng phải đổi tên là Lạc vì quan quân đã biết tên ngài. Cha Lạc thường hay xuống tỉnh Nam Ðịnh thăm viếng an ủi các giáo dân bị bắt. Ngài nói với những người khác rằng: “Những người chết vì đạo thì được lên thiên đàng ngay, còn tôi cứ phải ẩn trốn và mất nhiều tiền bạc mới thoát khỏi tay các quan, thà rằng tôi bị bắt và chết vì đạo thì hơn”. Sau 7 năm làm cha Sở Kẻ Ðầm, khoảng 4 năm sau lần bị bắt trước, Cha Lạc bị bắt lại ngày 10-11-1839, khi ngài sang thăm và xưng tội với Cha già Thi ở Kẻ Sui. Ông Lý Pháp không biết Cha Lạc nên có nhiều người dục ngài trốn đi, nhưng ngài nói: “Phó mặc cho ý Thiên Chúa, đây sẽ là lần thứ hai tôi bị bắt vì Chúa Giêsu Kitô”. Vì vậy khi Lý Pháp hỏi ngài có phải là cụ đạo không, ngài nhận ngay nên bị bắt trói lại. Giáo dân muốn có cha giúp đỡ phần thiêng liêng cho họ nên đã phải chạy tiền mới xin cho Cha Lạc được tự do. Cha Lạc dùng thuyền về nhà nhưng trên đường gặp mưa gió lớn phải đến một nhà quen trú ẩn. Cũng lúc đó, vì nghe Lý Pháp bắt được cụ đạo nên quan huyện đang dẫn người đi tới. Người nhà thấy vậy vội hô lên nho nhỏ để người chèo thuyền không ghé lên bờ: “Quan! Quan!” Nhưng người chèo thuyền lại nghĩ là người ta nói đùa nên cứ ghé lên bờ. Cha Lạc liền bị chận hỏi, ngài nhận mình là cụ đạo nên bị bắt trói còn những người khác chạy trốn được. Ðêm ấy Cha Lạc ngồi nói chuyện vui vẻ với linh canh và người nhà quan. Cha nói: “Vua cấm đạo và Ðức Chúa Trời định cho tôi phải bắt, tôi không sợ gì, trái lại vui nữa là khác”. Sáng hôm sau quan ngồi ăn một mâm, Cha Lạc cũng ngồi ăn một mâm, quan nói: “Ông ngồi một mình một mâm thì cũng là quan bên đời”. Trước khi đưa về huyện, quan sai làm gông bằng tre nhẹ đeo vào cổ Cha Lạc. Về tới huyện Bình Lục, quan nói với Cha Lạc: “Tôi không có ý bắt ông nhưng kẻ tố giác cứ lên cáo mãi nên tôi phải đi”. Cha Lạc thưa lại: “Ông không có ý bắt tôi thì hãy tha tôi về”. Quan đáp: “Bây giờ sự việc đã lộ rồi không làm gì được nữa”. Quan nói như vậy là có ý muốn ăn tiền đút lót, nên giáo dân lo gom góp tiền, và ông Cửu Bình cũng muốn cầm cả cơ nghiệp để có đủ tiền chuộc cha về, ông viết thư cho ngài: “Thưa cha, cha chịu chết thì một mình cha lên thiên đàng, mà nếu cha còn ở lại thì bổn đạo chúng con được nhờ, vậy xin cha nghĩ lại”. Nhưng cha Lạc đã cấm họ đem tiền chuộc, cha nói: “Tôi bị bắt lần này là lần thứ ba, thì đó đúng là thánh ý Chúa định cho tôi như vậy, anh chị em đừng mất tiền chuộc tôi làm gì”. Ðức Cha Retord (Liêu) cũng sai Thầy Sự mang 5 nén bạc đi chuộc Cha Thi và Cha Lạc, đức cha nói: “Hai cụ ấy tốt lắm, có thể chuộc được thì chuộc”. Cha Lạc nói lại với Thầy Sự: “Thầy nghĩ mà xem, tôi cũng như Thánh Phêrô, khi phải bắt lần trước được giáo dân cầu nguyện cho và được về, lần thứ hai giáo dân cũng lo liệu cho được thoát khỏi, nhưng ý Chúa đã định cho tôi phải chết vì Người như thánh Phêrô, thì nói bổn đạo đừng chuộc tôi nữa”. Quan huyện lấy lời ngọt ngào dụ dỗ hai cha quá khóa, với Cha Lạc ông nói: “Thầy đạo, thầy biết nhiều chữ nghĩa và còn trẻ nữa thì tại sao lại muốn chết, có phải là uổng không? Hãy tin tôi đi, nhắm mắt lại bước qua ảnh thánh hoặc chỉ đi vòng chung quanh, nếu thầy muốn thì để cho lính của tôi khiêng thầy qua, tôi sẽ làm án tha ngay”. Cha Lạc dõng dạc thưa lại: “Tôi không bao giờ làm theo ý quan vừa nói đâu. Hãy khép án tôi phải cắt trăm mảnh thì hơn”. Không lay chuyển được lòng hai cha, quan huyện làm tờ trình là bắt được hai cha ở ngoài ruộng để không ai bị phiền vạ lây, rồi dẫn giải cả hai về Hà Nội giao cho quan án. Về sau Cha Lạc sai người nhà mang rượu và 100 viên thuốc biếu quan huyện để cám ơn ông đã khai như vậy. Với giáo dân đi theo tiễn đưa khóc lóc, Cha Lạc nói: “Chúng tôi cám ơn anh chị em, anh chị em hãy về nhà và sốt sắng làm tôi thờ phượng Chúa cũng như là chúng tôi còn ở giữa anh chị em. Than khóc như thế này không có ích lợi gì mà còn tăng thêm sự phiền khổ cho chúng tôi”. Ngay ngày hôm sau khi vào nhà tù ở Hà Nội, ngày 17-11, các quan bắt đầu cuộc thẩm vấn, chính Cha Lạc thuật lại trong thơ gởi cho Ðức Cha Jeantet như sau: “Ngày 17, quan đã giao nộp chúng con cho quan án để truyền lệnh bắt chúng con bước qua ảnh thánh giá. Vì chúng con từ khước nên năm sáu anh linh xấn lại khiêng chúng con qua. Cha Thi đã ôm được thánh giá nhấc lên và hôn kính. Phần con, con cho chân lên rất cao và nói với họ: “Hãy chặt bớt chân ta đi, ta rất bằng lòng chứ đừng hòng trông ta chối đạo”. Sau đó quan lại hỏi vì sao đạo không cho phép thờ kính tổ tiên. Con đáp lại: “Nếu có ai chào khi cha mẹ đang ngủ thì không có kể là tôn kính bởi vì các ngài không biết gì. Cũng một lẽ ấy còn mạnh hơn đối với người đã chết”. Ngày 19 các quan lại gọi chúng con ra tòa lần thứ hai để ép buộc chúng con. Lần này họ bắt con đeo gông nặng hơn, và ngày 21 lại thay bằng xiềng. Xiềng của Cha Thi nhẹ hơn. Bốn ngày đầu con cứ chảy nước mắt hoài khi nghĩ đến các cha thừa sai và các anh em con. Nhưng từ ngày 15 tới nay thì con vui vẻ và bằng lòng, coi các khổ cực như không. Con thương Cha Thi vì tuổi cao không kham nổi những khốn khổ. Chúa đã thêm sức cho chúng con để không lo lắng gì nữa”. Ðức Cha Jeantet viết thư cho hai cha để nâng đỡ các ngài bền gan chịu khổ cho đến cùng và xin Cha Lạc thuật lại các câu đối đáp với các quan. Cha Lạc đã viết thư trả lời: “Thưa Ðức Cha, khi chúng con được thư đức cha an ủi thì cảm động chảy nước mắt ra. Chúng con là gì mà được các cha thương lo lắng. Chúng con không biết nói sao cho hết lòng biết ơn của chúng con. Riêng với đức cha, xin đức cha cầu cùng Chúa cho chúng con được giữ nghĩa cùng Chúa cho đến cùng. Chúng con đã viết tất cả những gì xảy ra cho chúng con trong tù cho đến bây giờ, con vẫn phải đối đáp những lời châm biếm của các người tù khác châm biếm đạo thánh. Con xin đức cha thương nhớ đến chúng con. Trong nhà tù rất khó viết thư cũng như nhận thư. Con không còn gì để viết. Vững mạnh như núi thái. Trần An Dũng”. Ngày 30-11, các quan cho đòi hai cha lên để ký nhận bản ản. Tuy nhiên các quan còn cố ép các cha quá khóa. Một người nhắc đến việc Thầy Phanxicô đã muốn chết hơn là chối đạo. Cha Lạc nhân cơ hội nói lên sự can đảm của mình: “Người tín hữu mà quan vừa nói chỉ là một đồ đệ của chúng tôi, đã biết chọn nghĩa vụ hơn là sự sống. Còn chúng tôi là các thầy đạo lại kém lòng can đảm hơn không dám đi theo con đường chúng tôi đã vạch ra cho họ sao? Không bao giờ, thưa các quan, các quan đừng chờ đợi việc hèn nhát này”. Các quan bế mạc phiên tòa nói với nhau: “Bọn chúng bám vào tôn giáo đến nỗi điên khùng”. Ba lần bị tra khảo nhưng các ngài không bị đánh đập tàn nhẫn, chỉ một vài cái tát mà thôi. Cha Lạc làm một bài thơ gửi cho Cha Thực nói lên chí khí của người Kitô: Lạc rầy đã rõ chốn quân quan. Bút chép thơ này gửi thở than. Lòng nhớ bạn non còn vất vả. Dạ thương khách chạy chưa yên hàn. Ðông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn. Tuy không phải chịu khốn khổ nhiều nhưng lòng các cha hằng muốn cho mình được xứng đáng đổ máu đào vì Chúa. Các ngài xin với những người nhà cầu nguyện để các ngài được bền vững trong khi chờ án tử. Các quan đã làm án xử trảm cho các ngài. Ngày 20 Cha Trân mang Mình Thánh Chúa cho hai cha. Ngày hôm sau bản châu phê án được mang về tới Hà Nội. Cha Dũng cùng với Cha già Thi vui mừng hát thánh ca theo chân lý hình ra khỏi thành. Tới nơi, các ngài quì cầu nguyện, ngước mắt lên trời và nghiêng cổ ra cho lý hình chém. Nhiều người làm chứng là đã nhìn thấy một con chim trắng, to lớn hơn chim bồ cầu, bay lượn trên các ngài lúc hành quyết. Lệnh quan vừa dứt, đầu Cha Dũng cũng rơi xuống đất. Cha được phong Á Thánh năm 1900. Ngày Lễ: 26 tháng 12. vncatholic.org Trường Thi Tử Đạo Anrê Trần An Dũng Lạc linh mục Năm Ất Mão (1795) quê thực Bắc Ninh Kinh tế yếu kém gia đình Cho Thầy Kẻ giảng thuận tình chăm lo Rồi sau đó Thầy cho rửa tội Chọn quan thầy dẫn lối Anrê Dũng xin chủng viện cho về Bố nuôi linh hướng tên đề Cha Lan Vào chủng viện thuộc làng Vĩnh Trị Rất siêng năng hoan hỉ tươi vui Xã giao chia sẻ ngọt bùi Văn thơ năng khiếu tới lui viết liền Cậu chỉ đọc khỏi biên, khỏi chép Khoảng vài lần cậu ghép thành thơ Mười năm Thầy giảng đón chờ Ba năm Thần học ngày giờ thụ phong Lên bàn thánh quan phòng của Chúa Ðược sai đi đồng lúa chín vàng Phó xứ Ðồng Chuối, Hà Nam Cùng Cha Chính Khiết sẻ san giúp người Rồi sau đó đổi rời nhiệm sở Giúp Cha Thi về ở Xứ Ðoài Ðây là Giáo xứ thứ hai Sau rồi lại đổi cử ngài Sơn Miêng Giúp Cha Thuyết, ơn trên đã định Ðưa ngài lên Cha Chính Kẻ Ðầm Nơi đâu Ngài cũng nhiệt tâm Ăn chay nhiệm nhặt đạt tầm mức cao Rất ưu ái người nào nghèo khổ Cha sẻ chia, ban bố Tin mừng Vua Minh Mạng đã bỗng dưng Gắt gao chiếu chỉ đến từng xã thôn Sai quân lính lập đồn chặn lối Cha đợi chờ trời tối đi xa Giáo dân ẩn nấp trong nhà Kẻ Rọi lập xứ để mà giảng rao Cha dâng lễ, ập vào quân lính Cởi áo liền Cha đứng với dân Ba mươi người bắt toàn phần Tổng Thìn đem bạc thân nhân chuộc về Rồi sau đấy đổi xê tên Lạc Lần thứ hai xứ khác Kẻ Sông Thói quen hàng tháng băng đồng Cha Thi, Cha Lạc hai ông giải hòa Lý trưởng Pháp vô nhà vây bắt Cả hai Cha chúng đặt giá cao Hai trăm quan chuộc bỏ vào Giáo dân cố chạy không sao đủ tiền Viên Lý trưởng ông liền tuyên bố Tha Cha Lạc đủ số tha Thi Ðường về thuyền chở Cha đi Trời mưa gió lớn phải thì ghé vô Vào nhà trú chúng hô bắt giải Huyện Bình Lục gặp lại Cha Thi Một lần nữa giáo hữu đi Lo tiền chuộc lại Cha thì khuyên can Ðây ý Chúa, Ngài ban ơn phúc Thánh Phêrô tới lúc mất đầu Cảm tình mọi giới từ lâu Quan Huyện Bình Lục ngõ hầu ủi an Truyền dọn cơm trên bàn tử tế Trả lại ngay áo lễ hai Cha Thanh minh quan Huyện nói là Triều đình cấm đạo đâu mà phải ta Sau ba bữa chuyển ra Hà Nội Các giáo dân kéo vội đi theo Quan liền hỏi Ðạo Trưởng nghèo Sao dân thương tiếc thuyền chèo người đông Một phụ nữ thưa ông quan Huyện Cha dạy khuyên thực hiện điều lành Yêu người mến Chúa vinh danh Hai Cha dừng lại chân thành ủi an Tại Hà Nội dã man tra hỏi Nhưng hai Cha chẳng nói một lời Lính vua trảm quyết tới nơi Giáo dân tiếp tế kịp thời mang cơm Hai Cha sống giản đơn mọi cách Dặn họ đừng mang xách thịt vô Ăn chay, tích trữ lương khô Cha Tân tiếp tế đem vô Máu Mình Ngày xử án lý hình tới nói Theo lệnh vua buộc trói thi hành Hai Cha cầu nguyện vinh danh Chém ngoài Cầu Giấy ngoại thành Thủ Ðô Năm Kỷ Hợi (1839) tung hô tử đạo Biện pháp này chỉ bạo quan quân Roma phong thánh tới gần Suy tôn Canh Tý (1900) dành phần Anrê ================== Bài Họa Dũng Lạc xưa rầy chốn cửa quan Cực hình vui nhận chẳng van than Giáo dân luôn nhớ giờ kinh nguyện Huynh đệ cầu mong biết gắn hàn Phú Quý trần gian cơn gió lốc Hồng ân Thiên Chúa phúc bình an Chia tay tạm biệt hằng mong đợi Thiên Quốc gặp nhau Chúa dẫn đàng Lời bất hủ: Lễ các Thánh 1-11-1839 linh mục Trân đưa Mình Thánh vào ngục, vừa thấy cha Lạc đã ra chào đón: "Xin chào bác, tôi đợi bác đã lâu vì hết lương thực rồi". Sau đó cha cung kính rước lễ, và trao Mình Thánh cho cha già Thi. Cuối năm 1839 quan công bố án tử hình. Trước phút hành quyết người lý hình đến nói với cha: "Chúng tôi không biết các thầy tội gì, chúng tôi chỉ làm theo lệnh trên. Xin các thầy đừng chấp". | |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







