Hiển thị các bài đăng có nhãn Mẹ Maria. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mẹ Maria. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2011

Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT 


 Mỗi người chúng ta đều có một bà mẹ trần thế. Mẹ là người sinh ra ta, cho ta bú mớm vỗ về, an ủi ta. Mẹ là người dậy ta tiếng nói đầu đời. Mẹ đưa ta tới trường ,mở rộng chân trời cho ta tiến bước. Mẹ dậy ta biết vượt thắng gian nan, đẩy lui thử thách, biết quí trọng thời gian. Mẹ làm gương cho ta về lòng bao dung, chia sẻ, nhân ái. Mẹ dậy ta phải sống công bằng bác ái. Mẹ giúp ta ham sống và tìm ra ý nghĩa cuộc đời. Mẹ là niềm an ủi, là hạnh phúc và là sức mạnh để ta lướt thắng gian nguy .Vâng, Chúa đã trao cho mỗi người một bà Mẹ đáng yêu, đáng quí trọng, Chúa lại ban tặng cho nhân loại một bà Mẹ trổi vượt trên mọi bà Mẹ thế trần. Mẹ có tên tuyệt vời không tên nào dưới thế có thể diễn tả hết như Mẹ đã được gọi : MARIA .
-Maria là ai ?
-Tại sao Mẹ lại vô nhiễm nguyên tội ?
-Đặc ân vô nhiễm nguyên tội giúp ích gì ta ?
I. MARIA LÀ AI ?
Ở đây , ta chỉ nói lướt qua về Maria qua đoạn suy niệm này vì bài này không phải là một nghiên cứu về tiểu sử của Mẹ theo nhãn giới Kinh Thánh hay suy tư thần học mà người viết chỉ phác hoạ đôi nét cơ bản để người đọc dễ nhận ra Maria là ai. Maria là Mẹ Đấng cứu thế, đã sinh ra Chúa Giêsu. Maria được sinh ra trong một gia đình đạo đức, thánh thiện. Cha Người là thánh Gioankim và mẹ Người là bà thánh Anna. Maria được sinh ra vào lúc hai ông bà Gioankim và Anna đã già nua, tuổi tác .Maria sống ở làng quê Nazarét, miền Bắc nước Palestina. Lớn lên như mọi người con gái thời đó, Maria đã đính hôn với Giuse, làm nghề thợ mộc ở làng Nagiarét, thuộc dòng dõi vua Đavít.
Tuy đã đính hôn với Giuse, nhưng Maria đã khấn giữ mình đồng trinh để đời đời dành riêng cho Thiên Chúa, nên chính trong thời điểm này, ý định của Thiên Chúa đã đổ xuống trên trinh nữ Maria. Thiên Chúa đã sai Thiên sứ Gabrien đến gặp trinh nữ Maria và nói lên ý định tuyệt vời của Thiên Chúa, chọn Maria làm Mẹ Đấng Cứu Thế . "...và này đây bà sẽ thụ thai,sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu "(Lc 1, 31 )
Maria bối rối, hoang mang, thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xẩy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !"(Lc 1,34 ). Thiên sứ đã giải thích cho Maria rằng: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà,và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa "(Lc 1, 35 ) Sau khi được giải thích về việc thụ thai mà vẫn giữ mình thuộc trọn Thiên Chúa, Maria dứt khoát nói lời xin vâng: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói "(Lc 1,38 ) . Và Ngôi Hai là Chúa Giêsu đã ngự trị trong lòng Đức Trinh nữ Maria .
Rồi lúc đến ngày sinh con, Mẹ Maria đã hạ sinh Chúa Giêsu nơi hang đá Bêlem(Lc 2,7 ), khi hai ông bà Giuse và Maria phải trở về quê quán để khai hộ khẩu theo lệnh của hoàng đế Au-gút-tô (Lc 2,1 ) . Sau đó hai ông bà Giuse và Maria lại phải đem Chúa Giêsu lánh qua nước Aicập để tránh việc tàn sát con trẻ của hoàng đế Hêrôđê cho tới khi Hêrôđê băng hà; hai ông bà Giuse và Maria lại bồng bế Hài nhi Giêsu trở về Nazarét quê nhà.
Mẹ Maria đã sống một cuộc đời hết sức âm thầm với Chúa Giêsu và thánh Giuse suốt 30 năm Chúa ở với hai ông ba. Trong ba năm Chúa đi rao giảng và kết nạp các môn đệ, chúng ta chỉ gặp Đức Mẹ một lần ở tiệc cưới Cana. Lần khác nữa khi Mẹ Maria và vài người bà con đi tìm Chúa Giêsu, Chúa đã trả lời : "...Những người nghe và giữ lời Ta giảng dậy, đó là Mẹ và anh em của Ta " (Mc 3,31-35 ) . Một lần nữa , chúng ta bắt gặp Mẹ Maria đứng dưới chân Thập Giá Chúa Giêsu trên đồi Canvê(Ga 19,25 ). Lần cuối cùng,chúng ta thấy Mẹ Maria và các môn đệ cầu nguyện chung trong nhà tiệc ly để chờ đợi Chúa Thánh Thần (Cv 1,14 ). Rồi sau đó, có lẽ Đức Mẹ đã theo thánh Gioan đi rao giảng Tin Mừng ở Tiểu Á và đã qua đời ở Êphêsô .
Maria đã sống ẩn dật, âm thầm nhưng vì Mẹ là Mẹ Đấng cứu thế , nên muôn đời mọi thế hệ đều ngợi khen, tung hô Mẹ .
II. TẠI SAO MẸ LẠI VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI ?
Tội nguyên tổ do hai ông bà tổ tiên Adong và Eva đã truyền lại cho con cháu muôn đời. Riêng Mẹ Maria vì là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng cứu Thế, Thiên Chúa đã dành cho Người đặc ân vô cùng quí giá ngay khi Người còn đang trong cung lòng bà thánh Anna, vì công nghiệp của Chúa Giêsu Con Mẹ sẽ sinh ra sau này, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ Maria nguyên tuyền, trinh trắng,không hề mang tì vết : đó là đặc ân vô nhiễm nguyên tội Thiên Chúa dành riêng cho mình Mẹ mà thôi .
Chính vì thế, không một phút, một giây nào trong đời sống, Đức Mẹ đã phải khuất phục ma quỉ, đã ở trong tình trạng tội lỗi. Dù khi thụ thai, dù lúc sinh con, Mẹ Maria luôn thuộc trọn về Chúa, nghĩa là lúc nào Mẹ cũng đầy tràn ân sủng của Chúa Thánh Thần, lúc nào Mẹ cũng đầy tràn ân phúc. Mẹ không hề mắc tội dù tội riêng mình làm vì Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Mẹ phải là Đấng hoàn toàn nhất để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Hai làm người. Mẹ là "Evà mới " như Giáo Hội đã ca tụng Mẹ "Thiên Chúa đã dọn cho con Ngài một chỗ ở xứng đáng nhờ đặc ân vô nhiễm nguyên tội của Đức Trinh Nữ" . "Mẹ được giữ sạch không vương chút tội lỗi nhờ vào ân sủng do cuộc tử nạn của Chúa Giêsu ".
Đức thánh Cha Piô IX đã long trọng tuyên bố tín điều Mẹ vô nhiễm nguyên tội ngày 8 tháng 12 năm 1854 và chỉ bốn năm sau đó chính Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadetta tại Lộ Đức ngày 25 tháng 3 năm 1858 đã xác nhận: "Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội".
III. ĐẶC ÂN VÔ NHIỄM GIÚP GÌ CHO TA ?
Chúng ta là con cái Đức Mẹ,Một người Mẹ hoàn hảo nhất, tốt đẹp nhất vì Mẹ luôn trong trắng, luôn tươi xinh, không một vết tì ố nào có thể làm ô nhiễm tâm hồn Mẹ .
Với đặc ân vô nhiễm nguyên tội, đặc ân được gìn giữ hồn xác vẹn toàn , Mẹ Maria là "Evà mới ", Evà mang sự sống, chứ không mang cái chết, chỉ có tội mới đem lại sự dữ, mang lại cái chết cho con người , còn Mẹ vì là người vẹn toàn được Thiên Chúa ấp ủ, bao bọc như Chúa gìn giữ con ngươi mắt Chúa, nên Maria đã trở nên mẫu gương trung thành tuyệt đối cho ta về đức trinh khiết Mẹ dành trọn vẹn cho Thiên Chúa. Mẹ trở thành sao mai dẫn lối nhân loại vượt qua cuộc hải hành trần gian đầy cam go thử thách nhờ lòng tin kiên vững không hề lay chuyển qua lời thưa Xin Vâng của Mẹ. Maria đã cho ta hiểu qua đặc ân vô nhiễm nguyên tội , Mẹ bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, Đấng nguyên vẹn, ngàn trùng chí Thánh , Đấng vô cùng chung thủy đối với nhân loại này .
Lạy Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội ,xin cho chúng con hiểu được rằng Chúa đã yêu thương Mẹ, yêu thương mọi người chúng con và không có việc gì mà Thiên Chúa không làm được .
Xin Mẹ giúp chúng con luôn biết ngước nhìn lên Mẹ dù cuộc đời chúng con có muôn ngàn vấp ngã , để chúng con luôn trỗi dậy và được Mẹ dắt tay trỗi dậy.
Xin Mẹ giúp chúng con và nhân loại biết bước đi trong vâng phục, tin tưởng và cậy trông như Mẹ đã luôn tuân phục ý Chúa, làm theo ý Chúa và thực thi Lời Chúa.

Lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm 08-12

Lịch sử Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội 
Lm Thêôphilê




Từ thế kỷ thứ VIII, bên Giáo hội Đông Phương đã mừng lễ “Thánh Anna thụ thai, mẹ của Theotokos (Mẹ Thiên Chúa)” vào ngày 9 tháng 12 hàng năm. Ý nghĩa lễ này dựa vào Ngụy Thư  “Tiền Tin Mừng của thánh Giacôbê”. Bà Anna sau một thời gian dài son sẻ đã được thiên thần báo tin thụ thai như dấu chỉ tình thương của Thiên Chúa.  Ý lễ được lan qua Tây phương nhất là tại Ý, Ái Nhĩ Lan và Anh thành lễ “Đức Maria thụ thai”. Tại thành Naples (Ý) vào thế kỷ thứ IX, ngày lễ được khắc vào lịch bằng đá hoa cương. Và năm 1050, Đức Giáo Hoàng Léon IX  huấn dụ các tín hữu mừng kính Đức Trinh nữ thụ thai như Giáo Hội Đông phương đã làm.
Cho đến thế kỷ thứ XII, những vị thánh như Albert Cả, Bonaventura, Tôma d’Aquin cũng cho rằng vì Đức Maria thừa kế di nghiệp Ađam nên vướng mắc nguyên tội, nhưng Mẹ được thánh hóa ngay từ trong thai mẫu.
Tuy vậy, vấn đề vẫn còn gây tranh cãi cho đến thế kỷ XIII. Một thần học gia lỗi lạc dòng Phanxicô là Duns Scott (1308) đã nghĩ ra một lối giải thích độc đáo bênh vực Đức Maria đã được sung mãn ân sủng ngay từ giây phút đầu tiên cuộc đời. Tác giả minh chứng đặc ân vô nhiễm tuyệt đối gìn giữ Đức Maria khỏi mọi tội lỗi kể cả nguyên tội không hề đi trệch ra ngoài trật tự ơn cứu chuộc, mà còn là thành quả vinh quang nhất trong công trình cứu độ của Chúa Kitô.
Đến thời Công đồng họp tại thành Bâle (Thụy sĩ) năm 1439 cũng đồng ý về vấn đề Đức Maria Vô Nhiễm, và mãi tới thời Đức Giáo Hoàng Piô IX, mới công bố ý tưởng Đức Maria Vô Nhiễm nguyên tội thành tín điều vào ngày 8 tháng 12 năm 1854 trong thông điệp Ineffabilis Deus : “Ta tuyên xưng, công bố và xác quyết rằng tín điều này đã được Thiên Chúa mặc khải và vì thế phải được mọi tín hữu tin nhận cách chắc chắn, không được rút lại. Cụ thể, tín điều này xác quyết rằng Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria ngay từ giây phút đầu tiên được tượng thai – nhờ ân ban và đặc sủng vô song Thiên Chúa toàn năng ban cho và nhờ công trạng của Đức Giêsu Kitô – đã được gìn giữ khỏi mọi vương vấn nguyên tội”.

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

LỄ MẸ DÂNG MÌNH ( 21 .11 )

Tác giả: Cao Tấn Tĩnh, BVL


Trong ý định của Thiên Chúa, phải tôn kính Hòm Bia Cựu Ước vì Hòm Bi đó là hình ảnh của Hòm Bia Tân Ước. Hòm Bia Tân Ước này chính là Mẹ Ngôi Lời Nhập Thể. Tuy nhiên, Chúa không muốn người ta tôn trọng Mẹ khi Mẹ còn tại thế, như đã tôn kính Hòm Bia Cựu Ước. Thật vậy, Chúa không muốn những người Ngài tuyển trọn phải liều mình trước những nguy hiểm của vinh hoa thế tục, được người đời tưởng thưởng công lao hay đức hạnh; Ngài không muốn tâm hồn họ xa rời Ngài, để lo được người đời ca tụng.


Chúa đã đặc biệt áp dụng định luật phòng ngừa khôn ngoan ấy nơi Mẹ Maria. Mặt khác, loài người còn phải học hỏi nơi Mẹ cũng như nơi Con Mẹ cho biết khinh chê những sản vật giả trá ở đời này. Biết yêu thích bị quên lãng, bị nhạt nhòa, bị khinh thị và đau khổ. Vì những lý do đó, Chúa đã cẩn phòng để khi còn tại thế không mấy ai biết đến Mẹ, ca tụng Mẹ như Mẹ đáng được. Thế nên, trước con mắt người đời, việc Mẹ dâng mình trong Đền Thờ Giêrusalem chẳng có gì long trọng linh đình.


Thánh Gioan Kim và thánh nữ Anna từ Nagiarét đưa Mẹ lên Đền Thờ Giêrusalem với mấy người thân thuộc đơn sơ. Đoàn người khiêm hạ lẻ loi, đi không một ồn ào tráng lệ nào hộ tống. Nhưng có một đoàn thiên thần lộng lẫy theo hầu. Những thiên thần này từ trời xuống, cộng thêm vào với những thiên thần hầu cận. Các Ngài vừa đi vừa hát những khúc ca vinh quang và tán tụng mới ca tụng Thiên Chúa. Chỉ có mình Mẹ nhìn thấy đoàn thiên thần đông đảo ấy và nghe nhạc trời của họ. Trên quãng đường dài từ Nagiarét đến Giêrusalem, hai thánh Gioan Kim và Anna được hưởng một nguồn an ủi thiêng liêng tràn ngập.


Khi tới Đền Thờ, ông bà cầm tay Người Con đáng kính của mình dẫn vào nội điện. Cả ba cùng sốt sắng cầu nguyện, rồi ông bà dâng hiến Mẹ cho Thiên Chúa. Mẹ cũng tự hiến dâng trọn vẹn trót mình dứt khoát cho Ngài. Trong ánh sáng huy hoàng tràn ngập Đền Thánh bấy giờ, Mẹ nghe thấy rõ rệt tiếng Thiên Chúa ưng nhận lễ vật là chính toàn thân Mẹ. Sau khi cầu nguyện, thánh GioanKim và Anna dẫn Mẹ ra giới thiệu với một vị tư tế. Vị này chúc lành cho Mẹ. Rồi tất cả cùng đưa Mẹ tới khu nhà dành riêng cho việc giáo dục những thiếu nữ theo một kỷ luật thánh hảo đạo hạnh. Những thiếu nữ nào thuộc chi tột hoàng vương Giuđa và chi tộc tư tế Lêvi được ở những chỗ ưu tiên trong khu nhà này.


Muốn tới khu nhà ấy, phải đi qua một cầu thang mười lăm bậc. Nhiều vị tư tế lúc đó ra đón nhận Mẹ Maria vào. Vị có nhiệm vụ hướng dẫn Mẹ là một tư tế phẩm trật thấp nhất. Ông đặt Mẹ lên bậc đầu cầu thang. Mẹ xin phép ông để giã từ cha mẹ. Rồi quay về phía song thân Mẹ qùy gối xin phép lành, hôn kính tay cha mẹ và xin cha mẹ dâng hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh GioanKim và Anna vừa bùi ngùi rơi lệ, vừa âu yếm chúc lành cho con. Sau đó, một mình Mẹ qủa quyết bước lên thang, không quay nhìn lại, không rơi một giọt lệ, không tỏ một cử chỉ nào ấu trĩ, không chút phàn nàn vì phải lìa cha mẹ. Trái lại, cả dung mạo cùng phong thái của Mẹ đều tỏa một nguồn vui siêu nhiên, một vẻ uy nghi dịu dàng làm mọi người phải sững sờ thán phục. Thượng tế Simêon (col LC 2,25) đón nhận Mẹ và trao cho những cô giáo đạo đức việc đào tạo Đức Maria.


Trong các cô giáo này, có bà tiên tri Anna (col LC 2, 36). Bà này đã được Chúa ban ơn soi sáng riêng, chỉ định làm giáo chức đảm nhiệm coi sóc Đức Nữ. Theo ơn Chúa quan phòng thúc đẩy, bà đem hết nhiệt tâm dìu dắt Mẹ Maria. Bà thật đức hạnh và thánh thiện xứng đáng có một môn sinh cao cả là chính Mẹ Thiên Chúa, là Chủ Mẫu muôn loài. Khác với bà Anna, thượng tế Simêon không biết gì về Mầu Nhiệm dấu kín nơi Mẹ. Ông chỉ được một ánh sáng thiêng liêng giúp ông nhận ra Mẹ là một trẻ nữ thánh thiện, được Thiên Chúa ưu ái thôi. Mẹ Maria rất khiêm nhượng đến qùy gối trước bà Anna, xin bà chúc lành hướng dẫn và nhẫn nại chịu đựng khuyết điểm của mình. Bà tỏ hết tình âu yến nâng niu Mẹ, và hứa mình sẽ là một bà Mẹ bảo trợ, sẽ đem hết dạ ân cần chăm sóc, cũng như đến việc giáo hóa cho Mẹ. Sau cuộc tiếp xúc đầu tiên với bà Anna, Mẹ đi gặp mọi thiếu nữ trong viện, chào hỏi niềm nở đoan trang, chúc may mắn cho từng người và cảm ơn họ đã nhận mình vào chung sống, mặc dầu mình bất xứng. Mẹ cũng xin họ chỉ dẫn và bảo cho biết những việc phải làm.


Khi ở một mình trong phòng nhỏ, Mẹ xấp mình xuống, kính cẩn hôn đất, vì đất ấy là một phần của Đền Thánh, Đất đã dung nạp mình dầu mình bất xứng. Rồi Mẹ thờ lạy cảm tạ Chúa vì được ẩn mình trong Nơi Thánh của Ngài. Mẹ cũng xin các thiên thần dạy cho biết việc phải làm để chu toàn thánh ý Chúa, vâng lời các tư tế, cô giáo và các bạn cùng nhà. Mẹ lại xin 12 thiên thần khác đi an ủi cha mẹ đang buồn sầu cô quạnh. Các vị đó thi hành ngay xứ mạng Đức Nữ Vương họ ủi thác. Trong lúc Mẹ truyện vãn với các thiên thần còn ở trong phòng với Mẹ, Mẹ cảm thấy một tác động thần linh làm Mẹ nên như người thiêng liêng và được ơn xuất thần ngây ngất. Theo lệnh Chúa, các vị luyến thần hầu cận trào đổ trên Mẹ những ánh sáng mới, những nghị lực mới, để chuẩn bị cho Mẹ đón nhận một hồng ân rất trọng đại mới. Phủ kín trong một đám mây ngời sáng, cả hồn xác Mẹ được đưa lên thiên đàng. Thiên Chúa đón tiếp Mẹ vào với hết tình nhân ái.


Mẹ phủ phục thẳm sâu trước mặt Chúa, thờ lạy Chúa với niềm tôn kính khiêm nhượng sâu sa nhất. Lúc đó Mẹ được hưởng phúc hưởng kiến một lần nữa hiệu qủa của cuộc thấy tỏ tường này không lời nào tỏ xiết. Thiên Chúa nói với Mẹ: “Con rất dấu yêu, lần thứ hai, Cha muốn con được tận mắt nhìn thấy những ân huệ Cha dành riêng cho những linh hồn sẽ được máu Con Chiên chịu chết cứu chuộc. Con hãy nhận cho rõ những kho tàng Cha dành để tôn cao những ai khiêm nhượng, làm giàu cho những ai nghèo khó, tôn trọng những ai bị khinh chê, và thương công tất cả những gì loài người làm và chịu vì Chúa”. 


Chúa còn tỏ cho Mẹ rất nhiều mầu nhiệm vĩ đại khác nữa. Mẹ thưa lên với Chúa: “Lạy Thiên Chúa Tối Cao, trước mặt Chúa, phận nhỏ hèn con sẽ ra sao? Con nhìn nhận con thật bất xứng với ơn Chúa thương tiết lộ cho con, Mặc dầu con chỉ là bụi đất. Xin Chúa hãy làm trọn thánh ý Chúa nơi con. Chúa đã qúy trọng những phiền não, đau khổ, khinh chê nhường ấy, Chúa đã thẩm giá cao sự khiêm nhượng, nhẫn nại, hiền từ nhường ấy, xin đừng để con bỏ mất kho tàng rất giầu sang đó, bỏ mất bảo đảm rất quý giá của tình yêu Chúa đó”.


Sau khi lĩnh nhận bấy nhiêu ân huệ, Mẹ Maria chìm vào một vực thẳm tán tạ, mến yêu, khiêm nhượng. Mẹ cất tiếng nói: “Oâi Thiên Chúa khôn tả, Chúa là ai, con là gì mà Chúa đoái thương nhìn đến và tôn vinh kẻ chỉ là bụi đất như vậy? Trong Chúa, con khám phá ra tính mênh mông của Chúa và tính hư vô của con. Con kinh ngạc vì đấng uy nghi vô cùng đã hạ mình xuống với con là một con sâu đất hèn hạ và đáng khinh chê. Lạy Chúa, lạy Vua Con, Chúa đã muốn, nên con xin nhận Chúa làm Tình Quân, làm Lương Quân của linh hồn con, nhưng con vẫn sẽ mãi mãi làm nữ tì của Chúa. Tâm chí con và trái tim con sẽ không còn một đối tượng nào khác, một cứu cánh nào khác ngoài Chúa là sự Thiện độc nhất của con, tình yêu độc nhất của con. Con mắt con sẽ không bao giờ dừng lại nhìn một người nào khác”.


Hài lòng khôn tả, Chúa thuận y việc nhậm lời của Mẹ. Ngài đặt trong tay Mẹ các kho tàng quyền năng và ân sủng của Ngài, bảo Mẹ muốn gì cứ xin, và đoan chắc rằng sẽ không từ chối Mẹ một điều gì. Đáp lại lời Chúa, Mẹ xin Chúa sai Con Một Chúa xuống trần gian cứu chuộc loài người; trào đổ nhiều ơn lành cho song thân; an ủi những người nghèo khó và đau khổ; ban cho Mẹ những ơn chu toàn hoàn hảo những gì đẹp lòng Chúa nhất.


Lúc đó, tất cả các thiên thần lại hát lên những khúc ca mới chúc tụng Thiên Chúa đã làm nên tất cả những việc lạ lùng ấy. Những vị Chúa đã chỉ định, tấu lên một khúc nhạc trời, tháp tùng Mẹ trở lại trần gian, và đặt vào phòng cũ. Thoạt vừa vào phòng, Mẹ đã thi hành ngay những điều Mẹ khấn hứa với Chúa, liên quan đến những lời khấn tu trì. Mẹ đi tìm bà Anna, nộp cho bà tất cả những gì song thân đã cho, để bà định đoạt tuỳ ý. Được Chúa soi sáng, bà Anna nhận lấy tất cả các đồ Mẹ nộp, chỉ để cho Mẹ y phục Mẹ mặc, cho nên Mẹ hoàn toàn nghèo khó. Vừa cảm phục ca tụng đức mến của Mẹ, bà Anna tự hứa sẽ săn sóc Mẹ kỹ lưỡng hơn, vì Mẹ chẳng còn gì, trong khi các thiếu nữ khác trong viện vẫn còn giữ trọn cả của cải mình và xử dụng tuỳ ý. Sau đó, hội ý với thượng tế Simêon, bà Anna vặt ra một luật sống cho Mẹ. Sự Mẹ khiêm nhượng từ bỏ mọi sự đã xin được Chúa ban cho Mẹ ơn siêu thoát mọi thụ tạo và chính mình, để chỉ còn sống trong tình yêu mến Chúa và yêu chịu sỉ nhục. Để thực thi đức tuân phục, Mẹ đã xin bà Anna một quy luật riêng. Nhờ ơn Chúa giúp, thánh Simêon và Anna thảo ra một quy luật đó, rồi gọi Mẹ đến trao cho. Mẹ quỳ xuống trước hai ngài, các ngài bảo Mẹ đứng dạy, nhưng Mẹ vẫn khiêm nhượng xin cứ để mình qùy mà nghe lời dạy bảo: Mẹ rất tôn kính chức phẩm và nhiệm vụ của các Ngài. Thượng tế nói với Mẹ: “Hỡi con, con còn rất non dại mà Chúa đã dẫn con vào Đền Thánh của Ngài. Đó là một ân huệ con phải nhìn nhận để hết lòng phụng sự Ngài và ham mê thực hành hết mọi nhân đức. Từ nay, con hãy bắt đầu cúi mình dưới ách Chúa, để suốt đời con được dễ dàng. Con hãy tuân phục bà giáo của con”. Mẹ Maria thưa lại: “Thưa thày, thày là thừa tác viên của Chúa tối cao, và thưa bà, xin dạy dỗ con, truyền bảo con việc con phải làm, kẻo con bị lầm lỡ. Con xin hứa với thày và với bà là con không có một ước vọng nào khác ngoài ước vọng ngoan ngoãn vâng theo ý thày và bà”.


Thượng tế Simêon và bà Anna được soi sáng phải săn sóc Mẹ cách riêng, nên đã vặt một chương trình sống cho Mẹ như sau: “Con hãy đem hết niềm nhiệt thành tham dự các giờ tán tụng Thiên Chúa. Hãy cầu nguyện cho Đền Thờ của Ngài, cho dân riêng Ngài và cho Đấng Cứu Chuộc mau đến. Buổi tối, con sẽ đi ngủ lúc 8 giờ. Tảng sáng, con sẽ thức dậy cầu nguyện cho tới 9 giờ. Từ giờ đó tới chiều, con sẽ làm các việc thủ công và học tập Thánh Kinh. Trong bữa ăn, con hãy dùng lương thực cách điều độ nghiêm cẩn. Trong mọi sự, Con hãy khiêm nhu, dễ yêu, và hết sức tuân phục bà giáo, bà sẽ dạy con mọi việc phải làm”. Mẹ Maria vẫn qùy gối nghe lời dạy bảo. Sau đó, Mẹ xin hai vị chúc lành, rồi hôn tay hai vị. Hai vị cũng rất được vui lòng và rất thiện cảm với Mẹ. Mẹ hòa mình rất đúng vào kỷ luật, mặc dầu quan điểm của Mẹ cao vượt hơn. Mẹ biết rằng tuân phục hoàn toàn không lý luận bao giờ cũng tốt hơn theo tư kiến, dầu là những tư kiến rất tốt. Thực ra, chính Thiên Chúa sống và hành động nơi các bề trên. Nếu ai không vâng nghe các Ngài, là họ hành động theo ảnh hưởng của cám dỗ, của đam mê, của ảo ảnh.


Mẹ nêu lên một đức khiêm nhượng cao cả khi xin cô giáo cho phép được phục vụ các bạn đồng song, được dùng vào những việc rất thấp hèn như quét nhà, rửa chén đĩa. Sáng cũng như chiều, Mẹ đều đến xin cô giáo ban phép lành, rồi hôn tay và hôn cả chân bà khi được phép. Mẹ rất mau mắn hạ mình, rất hiền hòa, rất ân cần, rất tôn kính, rất tuân phục, cả đối với các cô bạn, những người Mẹ đã chiếm được lòng. Không một ai không nhận thấy Mẹ có duyên nhị tuyệt vời, vì Mẹ là chỗ tập trung tất cả thuyên duyên tự nhiên cũng như những đức tính siêu nhiên. 


Mẹ hết sức tiết độ trong bữa ăn, và sẵn sàng chịu mất ngủ, một giấc ngủ vốn rất ngắn. Và ngay trong giấc ngủ ngắn ngủi ấy, Mẹ cũng vẫn chiêm niệm những mầu nhiệm cao cả trên trời, trong chiếc giường nhỏ bé của Mẹ. Không hề cho phép mình dùng một vật dụng nào thừa thãi, Mẹ tự cắt xén cả một đôi dụng cụ cần thiết. Mẹ dùng thời giờ rất khéo, giờ nào việc ấy khít khao nhau. Thời giờ Mẹ dùng nhiều nhất là thời giờ đọc Thánh Kinh, nhất là những trang liên quan đến trang Nhập Thể Cứu Chuộc. Mẹ am tường ý nghĩa việc nhập thể, nhờ có trí thức Chúa ban dư tràn, đến nỗi có thể giải thích những mầu nhiệm về ơn ấy với các thiên thần khi họ đàm đạo với Mẹ. Mẹ hiểu biết tất cả các nghi lễ cử hành trong đền thờ mà Mẹ tham dự, nhưng bề ngoài Mẹ vẫn đi học hỏi y như không biết gì. Ở địa vị nào Mẹ cũng giải tỏa một trí thông minh, một đức khôn ngoan, một vẻ trọn lành làm mọi người phải ngạc nhiên thán phục. Nhưng Thiên Chúa còn dấu kín nhiều vẻ đẹp của Mẹ, không mấy ai được biết, chỉ thiên thần mới được chiêm ngắm thôi.


Mẹ lớn dần về tuổi và về ân sủng trước mặt Chúa và loài người, nhưng bao giờ đạo tâm của Mẹ cũng lớn vượt hơn tự nhiên. Thiên Chúa không ngớt đổ tràn trên Mẹ những hồng ân rất kỳ diệu để mỗi ngày trang điểm thêm cho Mẹ. Ngài luôn luôn lấy ra từ kho tàng vô tận của Ngài những ân huệ mới để trau dồi riêng cho Mẹ. Mẹ cũng đáp ứng các ơn ấy cách cực kỳ trung tín, đến nỗi Thiên Chúa hài lòng hoàn toàn về Mẹ.


Mẹ Maria say mê nhất những việc lạ lùng của việc Nhập Thể. Mẹ thường hết sức âu yếm nói với các thiên thần, và đặt ra với họ những câu hỏi rất cao làm họ bỡ ngỡ, nói với họ những điều Mẹ khám phá ra về Nhân Tính rất thánh của Ngôi Lời, về sự Chúa hạ mình làm con trẻ, sinh ra và chịu dưỡng nuôi như loài người, có một người mẹ đồng trinh, lớn lên, chịu đau khổ, chịu chết cho hết mọi con cháu Adong. Được Thiên Chúa soi sáng, các luyến thần hầu cận cũng trả lời cho Mẹ biết thêm về các Mầu Nhiệm ấy. Lòng Mẹ bừng lên những đám lửa yêu mến rất nồng nhiệt khi nghe họ nói. Mẹ hỏi thêm: “Oâi các sứ thần Thiên Chúa, làm sao Đấng Sáng Tạo lại sinh ra bởi một thụ tạo? Đấng trau dồi vũ trụ sinh đẹp mà lại chịu đau khổ? Làm sao một người nữ lại được hạnh phúc gọi Đấng đưa mình ra khỏi hư vô là Con? Và được nghe Đấng ấy gọi mình là Mẹ? Ngài là Đấng Tự Hữu, sáng tạo vũ trụ mà! Ước chi tôi được làm nữ tì hầu hạ mẹ con cao trọng ấy thì hạnh phúc biết mấy!”. Cảm thông với tâm tình nhiệt ái của Mẹ các thiên thần trình bày cho Mẹ biết về các Mầu Nhiệm Chúa sẽ làm, trừ Mầu Nhiệm Mẹ là Mẹ Thiên Chúa.


Mẹ sáng tác nhiều ca khúc. Những ca khúc này vượt xa các ca khúc Giáo Hội cả về lượng lẫn phẩm, gồm chứa ý nghĩa rất cao, các vị thánh được ơn soi sáng cao độ nhất cũng không biết đến. Thiên Chúa muốn Giáo Hội chiến đấu chỉ dùng các chân lý mặc khải trong Thánh Kinh; còn những chân lý đã mặc khải cho Mẹ thì dành để cho Giáo Hội khải hoàn khám phá, hầu thêm vinh quang phụ trội cho các thánh trên trời. 


Mặt khác, Mẹ Maria rất khiêm nhượng không bao giờ tỏ cho loài người biết những ơn lạ lùng Mẹ được. Mẹ hết sức chăm chú, hết lòng giữ kín các ơn ấy. Đó là một lý do để Thánh Gioan tông đồ, khi viết sách Khải Huyền, đã che dấu mầu nhiệm liên hệ đến Mẹ, dưới những ẩn dụ mà ta có thể hiểu cả về Giáo Hội chiến đấu, cả về Giáo Hội Khải Hoàn.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2011

Cách Lần Hạt Mân Côi



  1. (bắt đầu) Làm dấu Thánh Giá và đọc Kinh Tin Kính
  2. Đọc Kinh Lạy Cha
  3. Đọc 3 Kinh Kính Mừng
  4. Đọc Kinh Sáng Danh
  5.  Đọc Mầu Nhiệm thứ nhất và Kinh Lạy Cha
  6. Đọc 10 Kinh Kính Mừng, và suy gẫm về mầu nhiệm này
  7. Đọc Kinh Sáng Danh và lời nguyện Mân Côi
  8. Đọc mầu nhiệm thứ hai, rồi đọc Kinh Lạy Cha
  9. Lập lại mục 6 và 7 => và tiếp tục cho đến hết các mầu nhiệm
          thứ 3, 4 và 5
  1. Đọc Kinh Lạy Nữ Vương
  2. Làm dấu Thánh Giá
  3. Hôn Thánh Giá Chúa với tâm hồn kính mến. (hết)
* Khi lần Chuỗi Mân Côi – Xin lưu ý cố gắng sốt sắng và đừng đọc nhanh quá!
-o0o-

Cách Chọn Mầu Nhiệm:

Thứ 2 & 7 => Mầu nhiệm VUI
Thứ 3 & 6 => Mầu nhiệm THƯƠNG
Thứ 4 & Chúa nhật => Mầu nhiệm MỪNG
Thừ 5 => Mầu nhiệm SÁNG

Ngoại Trừ:
Những ngày Chúa Nhật Giáng Sinh => mầu nhiệm VUI
Những Chúa Nhật mùa chay => mầu nhiệm THƯƠNG
-o0o-
Suy Niệm 5 Sự Vui
Thứ nhất thì ngắm: Thiên thần truyền tin cho đức bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ăn ở khiêm nhường.
Thứ Hai thì ngắm: Đức bà đi viếng bà thánh ISaVe. Ta hãy xin cho được lòng yêu người.
Thứ Ba thì ngắm: Đức bà sinh Đức Chu’a Giêsu trong hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn.
Thứ Tư thì ngắm: Đức bà dâng Đức Chúa Giêsu trong đền Tha’nh. Ta hãy xin cho đọc vâng lời chịu lụy.
Thứ Năm thì ngắm: Đức bà tìm được đức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho đươc giữ nghĩa cùng Chúa luôn.
Suy Niệm 5 Sự Thương
Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.
Thứ hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn.Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.
Thứ ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hay xin cho đươc chiu moi sự sỉ nhục băng lòng.
Thứ tư thì ngắm: Đức Chúa Giêsu vác cây thánh giá .Ta hãy xin cho được vác thánh giá theo chân Chúa.
Thứ năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá.Ta hãy xin đóng đinh chính thịt xác thịt vào Thánh giá Chúa.
Suy Niệm 5 Sự Mừng
Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.
Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được. ái mộ những sự trên trời.
Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Thánh thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần.
Thứ Tư thì ngắm: Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ.
Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên nước thiên đàng.
Suy Niệm 5 Sự Sáng
Thứ nhất thì ngắm: Đức Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống đẹp lòng Đức Chúa Trời.
Thứ Hai thì ngắm: Đức Chúa Giêsu làm phép lạ hoá nước thành rượu tại Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Đức Chúa Trời.
Thứ Ba thì ngắm: Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và ơn thống hối. Ta hãy xin cho được ơn cải sửa tâm hồn.
Thứ Tư thì ngắm: Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Ta hãy xin cho được luôn lắng nghe Lời Người.

Thứ Năm thì ngắm: Đức Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể. Ta hãy xin cho được siêng năng rước Mình Máu Thánh Người.
 

-o0o-

Các Kinh

Làm dấu Thánh Giá
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần . Amen.

Kinh Tin Kính:
Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất. Tôi tin kính Đức Chúa GiêSu Kitô là con một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh: chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Phi-la-tô, chịu đóng đanh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công. Tôi tin phép tha tội tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy, Amen.
Kinh Lạy Cha
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng; nước Cha trị đến; ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con; xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ: nhưng cứu chúng con cho khỏi mọi sự dữ. Amen.
Kinh Kính Mừng
Kính mừng Maria đầy ơn phúc Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử. Amen.
Kinh Sáng Danh
Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con, và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Amen.
Lời nguyện Mân Côi
Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội cho chúng con. Xin cứu chúng con khỏi sa hoả ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn.

Kinh Lạy Nữ Vương
Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành, làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy, thân lạy Mẹ. Chúng con, con cháu E-và, ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà, chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khẩn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ. Ôi khoan thay! Nhân thay! Dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

NĂM SỰ MỪNG : Niềm vui cứu độ

1. Chúa Giêsu sống lại.

Thánh Phaolô tông đồ rao giảng cho giáo đoàn Côrintô về Chúa Giêsu sống lại như sau : “Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em chinh điều mà tôi đã lãnh nhận, đó là : Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh.” (1Cr 15,3-4) Chúa Giêsu đã sống lại, như lời Ngài đã mạc khải cho các người Pharisêu, nhưng có lẽ vì đầu óc kiêu ngạo mà họ không tin hoặc không muốn biết : “Quả thật, ông Giôna ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm như vậy.” (Mt 12,40).
Chúa Giêsu đã sống lại như lời các thiên sứ đã báo cho hai bà Maria Mácđala và một bà Maria khác : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói.” (Mt 28,5b-6)
Chúa Giêsu đã sống lại vả đang giải thích Sách Thánh cho hai môn đệ trên đường Emmau : “Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,25-26)
Và còn rất nhiều bằng chứng để cho chúng ta biết được và tin rằng : Chúa Giêsu đã sống lại thật rồi, và từ đây tiếng hát vui mừng Alleluia sẽ được vang xa đến tận chân trời góc biển, và kéo dài cho đến khi Chúa lại đến lần thứ hai trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Chúa Giêsu đã sống lại là niềm tin căn bản của người Kitô hữu, một niềm tin mà nếu không có ân sủng đặc biệt thì chắc chắn không một ai tin được, bởi vì như một số người ác cảm với Giáo Hội, chống đối Thiên Chúa, đã nói rằng, Chúa Giêsu sống lại chỉ là chuyện cổ tích hoang đường của các môn đệ Ngài bịa đặt láo khoét. Thế nhưng, dù họ tin hay không tin, công nhận hay phủ nhận, thì Chúa Giêsu vẫn cứ là Thiên Chúa làm người, Đấng đã từ trong cõi chết sống lại, và muôn đời sự chết sẽ không còn làm chủ được Ngài nữa, mà trái lại, muôn loài trên trời dưới đất đều phải tùng phục quyền bính của Ngài, bởi vì trong Ngài mà mọi loài được tạo thành (Cl 1,16).
Đức Mẹ Maria - Đấng đồng công cứu chuộc loài người - đã chờ đợi từng giây từng phút lịch sử này, giờ đây đã rất vui mừng vì Con mình đã sống lại, và Mẹ càng vui mừng hơn nữa khi nhân loại, từ đây, sẽ nhận biết bao là ân sủng từ trời xuống bởi sự sống lại của Chúa Giêsu.
Hạt lúa mì gieo vào lòng đất giờ đây đã nẩy mầm, sự sống bất diệt - Chúa Giêsu - từ đây sẽ không bao giờ chết nữa. Các Thiên Thần vui mừng vì thần dữ sa tan từ đây sẽ không còn quyền lực gì trên sự sống, các Thánh trong ngục tổ tông vui mừng vì họ đã thoát khỏi cảnh giam cầm trong tối tăm để lên thiên đàng với Chúa Giêsu, người thế vui mừng, vì từ đây họ sẽ được hạnh phúc đón nhận lại thiên chức làm con của Chúa qua sự chết và sống lại của Chúa Giêsu. Cả trên trời dưới đất đều vui mừng, và triều thiên vinh quang bất diệt thuộc về Chúa Giêsu - Đấng Thiên Chúa làm người - như trong sách Khải Huyền đã viết : “Con Chiên đã bị giết xứng đáng nhận quyền năng và Thiên Tính, sự khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, vinh quang và phúc lộc. Lạy Chúa, Chúa đã cứu chuộc chúng con trong máu Chúa, chúng con thuộc mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ, mọi sắc dân, mọi quốc gia, Chúa làm cho chúng con trở thành vương tước và tư tế của Thiên Chúa, và chúng con sẽ thống trị trái đất.” (Kh 5,9-12).
“Chúa Giêsu đã sống lại” Giáo Hội cầu xin cho mỗi người trong chúng ta sống lại thật về phần linh hồn.
Sống lại thật về phần linh hồn, tức là ăn năn đền tội và cải thiện đời sống như Đức Mẹ Maria dạy, bởi vì chỉ có thật lòng cải thiện, thật lòng thay đổi cuộc sống cũ qua cuộc sống mới của mình mới có thể sống lại với Chúa Giêsu.
Sự thay đổi thật nào có đau khổ, hy sinh và rướm máu thì sự thay đổi ấy mới có giá trị, như Chúa Giêsu đã đi từ đau khổ qua sự chết để đến vinh quang phục sinh. Các môn đệ của Ngài cũng không đi ra khỏi quỷ đạo ấy, tức là đi theo con đường mà Chúa đã đi qua, như lời Ngài nói với thánh Tôma : “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6) và chỉ có con đường này mới làm cho chúng ta phục sinh với Chúa Giêsu mà thôi.
Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết là một phép lạ vĩ đại nhất để chứng tỏ Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật, cũng như để củng cố niềm tin cho các tông đồ. Ngài chính là sự cứu rỗi của nhân loại và là niềm hy vọng của những người tin kính và yêu mến Ngài.

2. Chúa Giêsu lên trời.

Thánh Phaolô tông đồ trong thư gởi cho giáo đoàn Êphêxô đã viết :“Khi làm cho Đức Kitô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” (Ep 1,20)
Mầu nhiệm kinh Mân Côi không dừng lại ở việc suy niệm Chúa Giêsu sống lại mà thôi, nhưng còn mời gọi chúng ta tiếp tục suy ngắm quê hương thật của chúng ta là thiên đàng, nơi mà Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha sau khi sống lại từ cõi chết. Lên trời tức là lên trong vinh quang của Thiên Chúa, nơi mà Chúa Giêsu đã khước từ vinh quang để xuống thế mặc xác phàm nhân như con người, ngoại trừ tội lỗi. Để từ đây Chúa Giêsu “từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần.” (Ep 1,3b)
Mỗi người chúng ta đều có một quê hương tạm ở trần gian và một quê hương thật ở trên trời ; quê hương tạm là nơi để chúng ta đền tội, lập công, là nơi để chúng ta chuẩn bị cho ngày hội ngộ với Thiên Chúa trên thiên đàng mai sau, tuy nhiên, việc được về quê thật hay không là tùy thuộc vào những công việc mà chúng ta làm ở trần gian này. Nếu ở trần gian này chúng ta biết nghe và thực hành Lời Chúa dạy, thì việc sẽ được cư ngụ vĩnh viễn trên thiên đàng sẽ là hiện thực, nhưng nếu chúng ta sống như những người con của tội lỗi, của ma quỷ, nghĩa là chúng ta sống theo dục vọng, để bản năng thống trị ý chí tinh thần mà trở thành công cụ của ma quỷ, thì chắc chắn nơi ở của chúng ta trên trời sẽ bị người khác chiếm đoạt.
Tại sao Chúa Giêsu phải xuống thế làm người, bởi vì Thiên Chúa muốn chúng ta nhờ Ngài mà được lên thiên đàng ; tại sao Chúa Giêsu phải chịu chết trên thánh giá, bởi vì ý Thiên Chúa muốn nhờ Ngài mà chúng ta được dự phần thiên đàng ; tại sao Đức Mẹ Maria lại luôn thôi thúc chúng ta ăn năn đền tội cải thiện đời sống, là bởi vì Mẹ biết rằng, nếu không ăn năn hối cải thì chúng ta sẽ đời đời xa cách Thiên Chúa mà nhập bọn với ma quỷ trong hoả ngục.
Giáo Hội mời gọi chúng ta yêu mến ái mộ những sự trên trời khi suy ngắm mầu nhiệm lên trời của Chúa Giêsu, bởi vì nếu không yêu mến những hạnh phúc mà các Thánh đã đạt tới trên thiên đàng, thì chúng ta không thể nào sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này được.
Yêu mến và ái mộ những sự trên trời, tức là yêu mến Cha và mong đợi ngày được sum họp với Cha trên trời, đó cũng chính là điều mà Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta khi dạy chúng ta cầu nguyện với Cha trên trời : “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời...” (Mt 6,9-13)
Đức Mẹ Maria từ trời hiện xuống để dạy dỗ con cái mình biết thực hành ý của Thiên Chúa trong cuộc sống đời thường, để ngày sau được hưởng thiên đàng với Chúa, với Mẹ, với các thiên thần và các thánh nam nữ. Đó cũng là mục đích sống ở đời này của chúng ta.

3. Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống.

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã hứa ban Chúa Thánh Thần xuống cho các tông đồ : “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em.” (Cv 1,7-8a) Và việc trước tiên mà Chúa Giêsu sau khi về trời ngự bên hữu Chúa Cha phải làm là ban Chúa Thánh Thần xuống cho các tông đồ, để Thánh Thần trở nên Thần Khí, Đấng an ủi, Đấng bảo trợ của các tông đồ và tất cả những kẻ tin vào Ngài.
Thánh sử Luca trong sách Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ như sau : “Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu lại một nơi, bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp. Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống trên từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho.” (Cv 2,1-4) Chúa Thánh Thần là Đấng an ủi mà Chúa Giêsu sai đến nhân danh Ngài để giúp các tông đồ trong giai đoạn “mồ côi” này, chính Ngài - trong ngày lễ Ngũ Tuần - đã khai sinh Giáo Hội Chúa Kitô ở trần gian, chính Ngài hướng dẫn Giáo Hội đi theo đường hướng mà Chúa Giêsu đã vạch ra cho các tông đồ trong những ngày giàng dạy tại trần gian là : yêu thương, hiệp nhất và phục vụ.
Hiệu quả của ơn Thánh Thần ban cho các tông đồ ngay lập tức khi đón nhận là ơn nói tiếng lạ, bởi vì Thánh Thần là Thầy Dạy, nên Ngài biết nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn sơ khai của Giáo Hội là truyền đạt Tin Mừng Nước Trời cho muôn dân thiên hạ, chứ không riêng gì cho dân tộc Do Thái. Và như một cơ hội hiếm có - mà như có bàn tay Chúa sắp đặt - trong ngày lễ Ngũ Tuần của người Do Thái, rất đông người đến tham dự, đủ mọi dân tộc, mọi thứ ngôn ngữ, và nắm bắt cơ hội này, các tông đồ lập tức nói về Chúa Giêsu cho mọi người nghe, và ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình. (Cv 2,6)
Chúa Thánh Thần hiện xuống để khai mở lòng trí các tông đồ, để các ngài nhớ lại những gì mà Chúa Giêsu đã dạy các ông, và từ đó các tông đồ đã mạnh dạn ra đi rao truyền Phúc Âm cho mọi người. Chính trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống, Đức Mẹ Maria cũng đã hiện diện giữa các tông đồ, Mẹ cũng được diễm phúc đón nhận Chúa Thánh Thần, như một dấu chỉ và điềm báo trước là từ nay Đức Mẹ Maria có một vị thế rất quan trọng trong Giáo Hội của Chúa Kitô ở trần gian, và Mẹ đã nên Đấng cầu bàu cho chúng ta và Chúa Giêsu.
Giáo Hội của Chúa Kitô được lập ra vì trần gian và cho trần gian, nhưng không phải của trần gian, do đó cần phải được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và dạy bảo, chính nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội Công Giáo đã đi suốt chặng đường lịch sử hơn hai ngàn năm và sẽ tồn tại cho đến khi viên mãn trong Nước Trời, tức là ngày Chúa Giêsu lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Đức Mẹ Maria ngay từ khi sứ thần Gabriel truyền tin, đã được sung mãn ơn Chúa Thánh Thần, và nhờ Thánh Thần soi sáng mà Mẹ mau mắn nhận ra chương trình cứu độ của Thiên Chúa sẽ thực hiện trên trần gian, do đó mà Mẹ đã mạnh dạn cất tiếng đáp trả lời đề nghị của Thiên Chúa : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” (Lc 1,38) Và hôm nay, trong ngày lễ Ngũ Tuần của người Do Thái, Chúa Thánh Thần lại ngự xuống trên Mẹ cùng với các tông đồ, lần hiện xuống này Chúa Thánh Thần đã mạc khải cho các tông đồ nhận ra Đức Mẹ Maria là Mẹ của Giáo Hội, bởi vì chính Mẹ đã sinh ra Đấng Cứu Thế, là Thầy và là Chúa của các tông đồ, do đó, Mẹ vẫn luôn đồng hành với Giáo Hội của Chúa Giêsu để nâng đỡ, an ủi và dạy bảo Giáo Hội giữa cảnh phong ba thế tục này.
Chúa Thánh Thần là ngự xuống trên các tông đồ và Đức Mẹ Maria trong ngày lễ Ngũ Tuần, và vẫn còn hiện diện với Giáo Hội luôn mãi cho đến ngày tận thế, vai trò Chúa Thánh Thần trong suốt chặng đường lịch sử của Giáo Hội rất quan trọng, bởi vì Giáo Hội như chiếc thuyền đang đi trên biển lớn trần gian để cập bến Nước Trời, mà Chúa Thánh Thần chính là bánh lái điều khiển con thuyền theo đường hướng của Chúa Giêsu đã dạy, và các tông đồ cũng như những người kế vị các ngài trong chức giám mục đều cứ nhắm hướng ấy mà hướng dẫn con tàu địa phương đi đến đích của mình là Nước Trời.
Giáo Hội khi suy ngắm đến việc Chúa Thánh Thần hiện xuống cho các tông đồ và Đức Mẹ Maria trong ngày lễ Ngũ Tuần của người Do Thái, đã mời gọi chúng ta hãy cầu xin Chúa Giêsu luôn ban ơn Thánh Thần xuống cho mình để hướng dẫn và dạy bảo chúng ta sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này. Tâm hồn của chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là nơi mà Thiên Chúa Ba Ngôi ngự trị, Đức Mẹ Maria đã nhiều lần nhắc nhở chúng ta hiểu biết điều ấy khi Mẹ luôn dạy chúng ta hãy ăn năn sám hối, hãy cải thiện đời sống. Để làm gì ? Là để cho tâm hồn chúng ta được thanh sạch, để xứng đáng là nơi ngự của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Xin được tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần là để chúng ta biết phân biệt được đâu là công việc của Chúa và đâu là việc của ma quỷ, đâu là tiếng nói của Chúa và đâu là tiếng nói của tự ái kiêu căng, đâu là việc nên làm và đâu là việc không nên làm. Để như lời thánh Phaolô tông đồ nói : “Những ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa, người được chấp nhận không phải là kẻ tự cao tự đại, nhưng là người được Chúa đề cao.” (2Cr 10,17-18)

4. Đức Chúa Trời cho Đức Mẹ lên trời.

Cuộc sống ở trần gian cũng có lúc đến hồi kết thúc, Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho lên trời cả hồn lẫn xác, đó là một đặc ân cao quý vô cùng, như lời Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố trong ngày lễ Các Thánh Nam Nữ 01/11/1950 : “Ta tuyên xưng, công bố và xác nhận tín điều được Thiên Chúa mạc khải là Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria Trinh Nguyên, khi thời gian sống tại thế hoàn tất, cả hồn lẫn xác của Người đã được đưa về trời trong vinh quang thiên quốc.” (TCF, 207)
Thiên Chúa tôn vinh Mẹ, Giáo Hội tôn vinh Mẹ và mỗi người con đều hân hoan vui sướng vì người mẹ cao quý của mình đã được diễm phúc lên trời cả hồn lẫn xác. Qua miệng của Vị đại diện Con Mẹ ở trần gian, Giáo Hội nhìn nhận và tin rằng : Đức Mẹ Maria đã được Thiên Chúa cất nhắc lên trời cả hồn lẫn xác. Đó không phải là chuyện thần thoại hoang đường, nhưng là một thực tại của đức tin, đức tin mà Đức Mẹ Maria đã biểu hiện ngay khi còn ở thế gian, nhất là khi nói hai tiếng Xin Vâng thì đức tin của Mẹ càng thêm mạnh mẽ, và càng mạnh mẽ hơn khi Chúa Giêsu sinh ra cho đến khi Ngài bị đóng đinh vào thập giá và chết, và niềm tin tuyệt vời này đã sinh hoa trái là Chúa Giêsu Con Mẹ đã sống lại vinh quang.
Đức Mẹ Maria lên trời cả hồn lẫn xác, để rồi được tôn vinh là Mẹ Thiên Chúa, là Nữ Vương trên trời dưới đất, và biết bao danh hiệu đẹp và cao quý khác mà nhân loại dành cho Mẹ. Chính việc lên trời cả hồn lẫn xác này mà Mẹ đã trở thành kẻ cầu bàu cho chúng ta trước mặt Chúa Giêsu. Cũng như Chúa Giêsu, Mẹ lên trời để dọn chỗ cho chúng ta là con cái của Mẹ, Mẹ biết vị trí tương lai của từng đứa con một trên thiên đàng, và khi thấy nhân loại ngày càng xa cách Thiên Chúa và vị trí của họ trên thiên đàng đang mất dần, thì Mẹ lại xuất hiện nhắc nhở, khuyên bảo con cái hãy cải thiện đời sống, hãy ăn năn đền tội để nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa và để vị trí của họ trên thiên đàng khỏi mất.
Đức Mẹ Maria từ giả cõi đời bình an trong vòng tay thân yêu và trong sự thương tiếc của các tông đồ, những môn đệ thân yêu của Chúa Giêsu, từ nay vị thế cao trọng của Mẹ trước mặt Thiên Chúa càng cao hơn và quyền thế hơn, không những cho Mẹ mà còn cho nhân loại được nhờ công phúc của Mẹ mà được đến gần với Chúa hơn.
Giáo Hội mời gọi chúng ta khi suy ngắm đến mầu nhiệm Mẹ lên trời này, thì cầu xin Mẹ phù hộ cho chúng ta được ơn chết lành trong tay Mẹ, đó là lời cầu xin xứng đáng, như Mẹ đã từng hứa cho những ai hết lòng yêu mến Mẹ và Chúa Giêsu con Mẹ, được sự an ủi và giúp đỡ của Mẹ trong giờ lâm chung. Đức Mẹ Maria lên trời là cả một niềm hy vọng cho chúng ta, những đứa con của Mẹ, bởi vì Thiên Chúa không tàn nhẫn để mẹ con cách biệt sau khi từ giã cõi đời, Mẹ ở đâu thì con ở đó, chỉ khi nào chúng ta tự mình muốn tách khỏi Mẹ để đi tìm cho mình một nơi khác ngoài thiên đàng mà thôi.
Đức Mẹ Maria lên trời là niềm hy vọng và ủi an của giáo hữu ở trần gian, bởi vì một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ được ở trên thiên đàng với Mẹ.

5. Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời.

Đức Mẹ Maria đã lên trời, đó là phần thưởng của Thiên Chúa dành cho những ai khi còn sống ở thế gian này mà hết lòng kính mến Thiên Chúa và yêu người thân cận như chính mình. Nhưng Thiên Chúa còn muốn thưởng Đức Mẹ Maria những ơn khác khi Mẹ ở trên trời, để nhờ Mẹ mà nhân loại chúng ta đón nhận dồi dào những ơn của Chúa hơn.
Trước hết, Thiên Chúa đặt Mẹ làm Nữ Vương trên trời dưới đất, cũng có nghĩa là Mẹ có toàn quyền ban phát ơn lành cho người thế, và là Đấng cầu bàu rất có thế giá trước mặt Thiên Chúa và con của mình là Chúa Giêsu. Nói như thế không phải là Mẹ quyền năng phép tắc hơn Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người, Ngài rất “rành” tâm lý của con người, bởi vì Thiên Chúa là Đấng cao trọng, mà con người khi phạm tội thì không dám đến trước mặt Chúa để xin lỗi, nên nhờ công nghiệp của Mẹ và chức vị Nữ Vương của Mẹ để xin Chúa tha tội cho họ, bởi vì không một ai yêu mến Đức Mẹ Maria mà lại không kính thờ Thiên Chúa.
Ơn cao trọng kế tiếp mà Thiên Chúa thưởng cho Đức Mẹ Maria khi ở trên trời chính là Mẹ trở nên kho tàng mọi ân sủng của trời cao, có thể nói tất cả ân sủng của Thiên Chúa đều đã ban cho Mẹ, như lời dạy của Thánh Công Đồng Vaticanô II : “Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Ngài (Mẹ) trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Ngài vẫn luôn tiếp tục cầu bàu để đem lại cho chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời.” [ ] Giáo Hội đã xác định như thế, vì Giáo Hội qua bao nhiêu thăng trầm của chính mình và của thế giới, đã cảm nghiệm được quyền thế của Đức Mẹ Maria trước toà Thiên Chúa, và nhờ đó mà Mẹ can thiệp kịp thời và ban ơn lành xuống cho Giáo Hội và cho thế giới.
Đức Mẹ Maria là kho tàng ân sủng của Thiên Chúa, có nghĩa là Mẹ cũng được Thiên Chúa cho phép được chia sẻ một phần nhỏ vào vinh quang và quyền năng của Ngài, để qua Mẹ mà nhân loại dễ dàng đến với Chúa hơn.
Những lần Đức Mẹ Maria hiện ra cho loài người, là những lần Mẹ tỏ cho loài người thấy và biết quyền thế của Mẹ trước toà Thiên Chúa, những lời Mẹ dạy, những phép lạ Mẹ làm đều phù hợp với ý định của Thiên Chúa muốn cứu độ nhân loại.
Và Thánh Công Đồng Vaticanô II lại một lẫn nữa khẳng định Mẹ chính là kho tàng ân sủng của Thiên Chúa : “Thật thế, mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Đức Trinh Nữ trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách thể nào, nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô.”
Thiên Chúa thưởng công cho Đức Mẹ Maria trên trời là kết thúc mầu nhiệm mùa Mừng, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy sống xứng đáng với những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho, qua trung gian Đức Mẹ Maria, để ngày sau chúng ta cũng được Thiên Chúa thưởng ở trên trời với Mẹ. Bởi vì được sum họp với Chúa và Mẹ trên trời chính là mục đích sống của chúng ta ở đời này.
Mầu nhiệm mùa Mừng của kinh Mân Côi là niềm vui và hy vọng cứu độ của chúng ta, suy ngắm và sống với mầu nhiệm này là chúng ta biết Thiên Chúa và Đức Mẹ Maria yêu thương chúng ta đến chừng nào.

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

NĂM SỰ THƯƠNG : Con đường hẹp cứu rỗi linh hồn


1. Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu.

Có lẽ trong các mầu nhiệm của kinh Mân Côi, không có mầu nhiệm nào làm cho chúng ta cảm động và thấy mình quá tội lỗi cho bằng mầu niệm thương khó - năm sự Thương - này, bởi vì khi suy ngắm đến những đau khổ mà Chúa Giêsu phải chịu vì tội lỗi nhân loại và của chúng ta, thì không một ai trong chúng ta cảm thấy mình là người tốt lành thánh thiện cả, bởi vì Chúa Giêsu là Đấng thánh đã trở nên như một tội nhân, thì chúng ta là cái gì trước mặt Thiên Chúa ?
Nơi vườn Ghếtsamani, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Cha trên trời, thánh Mátthêu đã thuật lại như sau : “Bấy giờ Đức Giêsu đi cùng với các ông đến một thửa đất gọi là Ghếtsêmani. Người nói với các môn đệ : ‘Anh em ngồi lại đây, Thầy đến đằng kia cầu nguyện’.”
Trong cơn đau buồn nhất của con người, Chúa Giêsu đã khước từ sự ồn ào của những người thân, Ngài muốn yên tĩnh một mình để suy nghĩ đến những đau khổ mà trong giây lát nữa đây mình sẽ phải chịu. Chúa Giêsu cầu nguyện lâu giờ với Chúa Cha, cũng có nghĩa là Ngài đang đắm mình trong sự vâng phục ý Cha trên trời, coi ý Cha là lẽ sống của mình, và dù cho dù Ngài có can đảm đến đâu thì sự sợ hãi vẫn cứ xâm chiếm tâm hồn Ngài trong chốc lát, khi Ngài thốt lên : “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha.”
Ý của Cha là con phải hy sinh, một thứ hy sinh mà đến các thiên thần thông minh sáng láng mà cũng không hiểu nổi, một thứ hy sinh mà chính ngay ma quỷ trong hoả ngục cũng vò tai bứt tóc cũng không nhận ra đó là Đấng Cứu Độ trần gian, là Đấng mà ngày xưa trong vườn địa đàng Thiên Chúa đã nói với con rắn - sa tan - rằng : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn gót nó.”
Đức Mẹ Maria khi hiện ra đã lần chuỗi Mân Côi chung với những người mà Mẹ chọn (ba trẻ Lucia, Jancinta, Phanxico ở Fatima, và Bernadette ở Lộ Đức), chắc chắn Mẹ cũng rất đau khổ khi suy đến cảnh Chúa Giêsu đang cầu nguyện trong vườn Ghếtsêmani : mồ hôi và máu chảy ra, và thật cô đơn khi các môn đệ đã ngủ say. Mồ hôi và máu chảy ra đó, không phải là do làm việc mệt nhọc mà chảy mồ hôi, cũng không phải do bị thương tích mà chảy máu, nhưng là do tự nỗi đau khổ tột cùng ở trong tâm hồn đã làm đứt các mạch máu và máu chảy ra, nỗi đau khổ tột cùng này chính là Chúa Giêsu đã thấy trước những vô ơn bội nghĩa của nhân loại, nhìn thấy những tội lỗi mà nhân loại đã xúc phạm đến tình yêu vô biên của Ngài dành cho họ.
Đã có những lần chúng ta đau buồn vì bị người thân khinh dể, bị người tình phản bội, đã có những lần chúng ta cảm thấy buồn chán thất vọng vì chung quanh mình không tìm ra được người bạn thân biết thông cảm và chia sẻ những nổi buồn với mình. Chúa Giêsu trong vườn Ghếtsêmani còn đau buồn hơn chúng ta nhiều lần, bởi vì tất cả những tội lỗi của chúng ta mà Ngài phải gánh lấy trên thân mình, đang làm cho Ngài đau khổ đến nỗi mồ hôi máu chảy ra.
Đức Mẹ Maria đã nhiều lần nhắn nhủ loài người hãy ăn năn đền tội, hãy cải thiện đời sống của mình, để làm dịu bớt đi những đau khổ mà Chúa Giêsu vẫn đang chịu vì chúng ta, để lau đi những mồ hôi máu đang làm cho Chúa Giêsu như đang hấp hối, không phải trong vườn Ghếtsêmani, nhưng là hằng ngày trong các nhà tạm trong nhà thờ lớn nhỏ trên khắp thế giới.
Chỉ có thật lòng hối cải tội lỗi của mình mới thật là con đường để được tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự cứu rỗi đời đời.

2. Chúa Giêsu chịu đánh đòn.

Một hình hài đang quằn quại dưới những đòn roi vọt dã man của những người lính Rôma, một con người đã từng đưa tay thi ân giáng phúc cho nhiều người, giờ đây hai cánh tay bị trói vào cột đá để chịu người đời trả ơn bằng những đòn roi tủi nhục. Chúa Giêsu đó, hình hài của Ngài đang biến dạng dưới những đòn roi của quân lính, thân thể Ngài đang bị xâu xé tả tơi bởi những cây roi sắt đánh vào, không một tiếng rên la, không một lời oán trách, như lời tiên báo của tiên tri Isaia đã nói về Ngài trong bài người Tôi Trung của Thiên Chúa :
“Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn,
giơ má cho người ta giật râu.
Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.”
 (Is 50,6)
Đức Mẹ Maria mời gọi chúng ta suy niệm giây phút bị đánh đòn này của Chúa Giêsu, để chia sẻ những đau khổ tủi nhục mà Ngài phải chịu vì tội lỗi của chúng ta. Chính Mẹ, dù rằng không đến tận nơi trói giữ Chúa Giêsu để nhìn thấy thân xác con mình đang bị hành hạ, nhưng tình thương và quả tim của Mẹ đã cảm nghiệm được những đau khổ ấy, qua tiếng hét tiếng la man rợ của những tên lính không hề xúc động trước những đau đớn của người khác, và những ngọn đòn chí tử ấy như quất vào thân xác, vào con tim của Mẹ, làm cho Mẹ trở nên Đấng đồng công cứu chuộc loài người với con mình.
Trong tông thư “Kinh Rất Thánh Mân Côi” gởi cho các giám mục, linh mục và giáo hữu, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói : “Sự đau khổ hèn hạ đó mạc khải không những tình yêu Thiên Chúa nhưng còn ý nghĩa của chính con người nữa.” Tình yêu của Thiên Chúa dành cho loài người thì đã quá rõ qua việc Chúa Giêsu - Con Một Ngài - đã chịu chết trên thập giá, nhưng ý nghĩa của con người thì nhân loại chưa nhận ra được tình yêu cao trọng này của Thiên Chúa, cho nên, nhân loại vẫn cứ mãi mê trong những đam mê tội lỗi, mà mỗi lỗi phạm của con người là mỗi đòn roi sắt đánh vào thân mình của Chúa Giêsu.
“Chúa Giêsu chịu đánh đòn, ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng”, nhờ lời dạy của Giáo Hội mà chúng ta biết hy sinh đời sống hưởng thụ của mình, biết bằng lòng với những gì mà Thiên Chúa ban cho mà không so đo phân bì với người khác, đó chính là con đường hẹp để được cứu rỗi của chúng ta, và đó cũng là một trong những lòng nhắn nhủ tha thiết của Đức Mẹ Maria qua những lần hiện ra với con cái loài người, và nhất là trong bí mật thứ ba ở Fatima, chị Lucia đã thuật lại như sau : “Sau hai phần mà con đã giải thích, phía bên trái của Ðức Bà và cao hơn một ít, chúng con đã thấy một Thiên Thần cầm một thanh gươm bằng lửa nơi tay trái ; nó lấp lánh và phát ra những tia lửa dường như sẽ đốt cháy thế gian ; nhưng chúng tắt ngúm khi chạm đến ánh quang chiếu toả từ tay phải của Ðức Bà hướng về trần gian : chỉ về trái đất bằng tay phải, Thiên Thần lớn tiếng thốt lên : ‘Ðền tội, Ðền tội, Ðền tội !’.”

3. Chúa Giêsu chịu đội mão gai.

Chúa Giêsu là Vua cả trời đất, không một triều thiên vương miện nào trên thế gian này có thể đội trên đầu của Ngài, vì không xứng đáng. Nhưng khi đã trút tất cả vinh quang và mặc lấy thân nô lệ trở nên một kẻ phàm nhân (Pl 2,6-8), bị những người Pharisiêu và các kinh sư vì ghen ghét mà kết án tử hình, thì mũ triều thiên của Ngài chính là vòng gai nhọn bện lại thành cái vòng đóng vào đầu để làm trò cười nhạo báng của quân lính.
Cái vòng gai nhọn ấy tượng trưng cho những tội kiêu ngạo của loài người, khi mà con người ngày càng chối bỏ Thiên Chúa trong cuộc sống của mình ; chính những kiêu ngạo ấy đã làm cho con cái của Giáo Hội bị chia rẻ, tấm áo tinh tuyền của Chúa Giêsu bị xé ra thành nhiều mảnh nhỏ, để rồi trở thành vòng gai nhọn đóng vào đầu của Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu chịu đội mão gai tức là Ngài chịu gánh lấy tất cả tội của loài người trút lên đầu Ngài, qua những trận đòn và những lời nhạo báng xúc phạm của những người linh dã man.
Khi suy ngắm đến thảm kịch nhạo báng này của những người lính Rôma dành cho Chúa Giêsu, chúng ta giận dữ lòng sục sôi vì quân vô đạo này đã tàn nhẫn với Chúa Giêsu là Đấng Thánh, chúng ta ước ao có được quyền phép để trừng phạt những tên lính độc ác ấy để cứu Chúa Giêsu. Nhưng có lúc nào chúng ta tự xét mình : chính tôi là tên lính đã đội mão gai, đã nhạo cười Chúa Giêsu bằng cuộc sống bê tha tội lỗi của mình, chính tôi đã dùng những ghét ghen, kiêu căng, nói xấu, vu khống, tham lam, dục vọng bện lại thành một vòng gai nhọn để đội trên đầu của Chúa Giêsu !
Đức Mẹ Maria vẫn tha thiết kêu gọi chúng ta đừng phạm tội nữa, đừng trở thành những tên lính đánh đòn nhạo báng Chúa Giêsu nữa. Mẹ kêu gọi chúng ta hãy ăn năn sám hối, cải thiện đời sống và hy sinh thật nhiều, bởi vì chỉ có những việc làm như thế, mới mong mão gai trên đầu Chúa Giêsu trở nên nhẹ nhàng, và án phạt của Thiên Chúa cũng sẽ cất khỏi trên đầu chúng ta.
“Chúa Giêsu chịu đội mão gai” Giáo Hội dạy chúng ta cầu xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng. Bởi vì chỉ có chấp nhận chịu sỉ nhục mới đánh tan được kiêu ngạo, biết bằng lòng chịu những hiểu lầm, ghét ghen của tha nhân, mới có thể chấp nhận đội mão gai khiêm nhường của Chúa Giêsu. Đó chính là con đường hẹp dẫn đưa chúng ta đến nguồn ơn cứu độ.

4.Chúa Giêsu chịu vác cây thánh giá.

Chỉ có ăn năn hối cải và đền tội, thì chúng ta mới có thể làm nhẹ bớt sự công thẳng của Thiên Chúa sắp trút xuống trên thế gian, và chỉ có đền tội mới có thể trở thành một ông Simon thứ hai vác đỡ thánh giá với Chúa Giêsu, tức là chia sẽ những đau khổ do tội đang trở thành cây thánh giá nặng nề trên thân thể Chúa Giêsu. Đức Mẹ Maria hiểu thấu những nặng nề đau khổ của Chúa Giêsu, bởi vì Mẹ cũng chen chúc trong đám đông hiếu kỳ để nhìn cho tường tận khuôn mặt “chẳng còn hình tượng người ta nữa” của Con mình, đang lê lết đôi chân vác thập giá đi ra pháp trường để chịu chết. Lòng Mẹ quặn thắt lại, đau đớn vô cùng như chính Mẹ vác cây thập giá vậy.
Đường lên Núi Sọ không bằng phẳng dễ đi, nhưng dốc đá gồ ghề, với thân xác bị đánh tả tơi suốt một đêm,Chúa Giêsu thật sự sức đã kiệt lực đã cùng, nhưng vẫn cứ gắng gượng để làm tròn bổn phận mà Cha đã giao phó cho mình.
Chúng ta dễ dàng nổi quạu khi trách nhiệm nặng nề đè trên vai của chúng ta, chúng ta dễ dàng oán trách người khác khi thấy họ thong dong tự tại, chúng ta cũng dễ dàng tự mãn khi làm được nhiều công việc, và dù muốn hay không thì tất cả cũng đều là thánh giá của chúng ta phải vác trong cuộc sống của mình, để cùng đồng hành với Chúa Giêsu trên đường lên Núi Sọ, và đó cũng là điểm vinh quang của người Kitô hữu, bởi vì khi chết đi là khi bắt đầu cuộc sống mới với Thiên Chúa ngay tại trần gian này.
Trên đường lên Núi Sọ, cây thánh giá của Chúa Giêsu đã là cớ vấp phạm cho nhiều người đi theo để bàn tán : người thì đấm ngực ăn năn, kẻ thì nhạo báng chê cười, người thì suy nghĩ những việc đang xảy ra trước mặt. Và Đức Mẹ Maria cũng đang đi theo đám đông ấy, nhưng không ồn ào la hét, chỉ nhìn theo Con để khóc và chia sẻ cây thánh giá cứu độ với Con mình.
Hôm nay, có nhiều nơi trên thế giới, thánh giá cũng là một cớ vấp phạm cho nhiều người như lời của ông già Simêon đã tiên báo khi Chúa Giêsu được cha mẹ dâng vào đền thánh : “Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà...” (Lc 2,34) và thánh giá vẫn còn mãi mãi là án phạt cho những ai luôn chối bỏ chân lý là Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, và thánh giá cũng là biểu hiệu của ơn cứu độ và đem lại sự sống viên mãn cho những ai tin vào Đấng đang bị treo trên nó : Chúa Giêsu.
Điểm cuối cùng của chặng đàng thánh giá là Núi Sọ, nơi để hành hình các tội trọng phạm, Chúa Giêsu đang đứng nơi mà mình sẽ là người làm ứng nghiệm lời của Đức Chúa đã phán dạy ông Môsê ngày xưa trong hoang địa khi dẫn dân Do Thái về miền Đất Hứa :“‘Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.’ Ông Môse bèn làm một con rắn đồng và treo lên một cây cột, và hể ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng, thì được sống.” (Ds 21,8-9) Lời của Đức Chúa lát nữa đây sẽ ứng nghiệm khi Chúa Giêsu bị đóng đinh vài thập giá, và trở nên nguồn ơn cứu độ cho những ai nhìn lên“Đấng đã bị đâm thâu” và được sự sống đời đời.
Đức Mẹ Maria đã chứng kiến cảnh quân lính lột áo Chúa Giêsu ra, đã tận mắt nhìn thấy từng cái đinh với âm thanh chát chúa của búa tạ đóng vào trên tay chân Con của mình vào cây gỗ giá, nỗi đau vô vàn của Chúa Giêsu đang thấm thấu vào trong tâm hồn của Mẹ, Mẹ như bị những cái đinh to lớn ấy đóng vào trong tim của mình, bởi vì tay chân hình hài đang quằn quại trên cây gỗ giá ấy chính là hình hài được Mẹ cưu mang trong dạ chín tháng mười ngày, được máu thịt và hơi thở của Mẹ nuôi sống từng ngày để giờ đây trở thành tế phẩm dâng lên Chúa Cha để xin Ngài tha tội cho nhân loại tội lỗi.
Tại sao Chúa Giêsu bị đóng đinh chân tay vào thánh giá thì chúng ta đã hiểu rõ, bởi vì chính Ngài đã yêu thương nhân loại, yêu thương chúng ta mà vâng lời Chúa Cha để chịu nhiều đau khổ, như lời trong thư gởi tín hữu Do Thái đã viết : “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục.” (Dt 5,8) mà cái đau khổ tột cùng nhất trong các đau khổ chính là sự phản bội của người mà mình đã hy sinh cho họ.
“Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thánh giá, ta hãy xin cho được đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa.”
Tay của Chúa Giêsu bị đóng vào thánh giá để cho tay của chúng ta được vươn tới với những người đang cần chúng ta giúp đỡ, để tay của chúng ta trở thành tay của Chúa Giêsu an ủi xoa dịu những vết thương tích nơi người bất hạnh, để tay của chúng ta vươn ra nắm lấy những bàn tay đang ngã xuống vũng sâu của đam mê trụy lạc ; chân của Chúa Giêsu bị đóng đinh vào thánh giá là để cho chân của chúng ta ra đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, để chân của chúng ta rảo bước đến với những nơi mà bóng tối bất công đói nghèo đang ngự trị, chân của Chúa Giêsu bị đóng vào thánh giá là để chân của chúng ta đi đến nhà thờ thay cho những người ao ước đến mà không được...
Cây thập giá được dựng đứng lên trên đồi cao với hình hài đẫm máu của Chúa Giêsu, thì đối với những người Pharisiêu và các kinh sư thì coi như đã giải quyết được một vấn đề liên quan đến quyền lợi và uy tín của họ, cái gai trong mắt họ đã được nhổ ra và treo trên thập giá. Người bị họ kết án tử và treo trên thập giá ấy, chính là Đấng sẽ xét xử họ trong ngày thế mạt, Đấng mà họ coi như một tử tội ấy sẽ là Đấng ngự xuống uy nghiêm trên mây trời để phán xét thế gian (Mt 25,31-46).
Trong những lần hiện ra tại thành phố Akita - Nhật Bản, vào ngày 03/08/1973 Đức Mẹ Maria đã nói cho nữ tu Sumako Sugawara biết : “Rất nhiều người đang gây buồn phiền cho Chúa. Mẹ muốn nhiều linh hồn an ủi Ngài để làm dịu cơn thịnh nộ của Chúa Cha. Cùng với Con của Mẹ, Mẹ muốn nhiều linh hồn dâng những đau khổ và khó nghèo của mình, để đền tạ cho kẻ tội lỗi và những kẻ vô ơn bội nghĩa.”
Ngày hôm nay, nhân loại vẫn còn đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá bằng những tội lỗi của mình, các con cái Mẹ vẫn còn đóng đinh người Anh Cả của mình bằng những tội bất trung, bằng những thói hư tật xấu, bằng những ghen ghét bon chen, bằng những sự phạm thánh mà chính Mẹ đã báo cho nữ tu Sumako Sugawara rằng : “Thế lực ma quỷ sẽ xâm nhập vào trong Giáo Hội, đến nỗi người ta sẽ thấy Hồng y chống đối Hồng y, Giám mục chống đối Giám mục. Những Linh mục có lòng sùng kính Mẹ sẽ bị chính đồng bạn của họ khinh miệt và chống đối...” Lời tiên báo này của Mẹ đang ứng nghiệm trên khắp thế giới, khi mà những con cái ưu tuyển của Mẹ, các môn đệ của Chúa Giêsu vẫn có những người muốn chối bỏ ân sủng mà mình đã lãnh nhận từ nơi Giáo Hội, để rồi trở thành những người lính đóng đinh Chúa Giêsu vào thánh giá một lần nữa.

5.Chúa Giêsu chịu chết trên thánh giá.

Phúc Âm của thánh Mátthêu thuật lại rằng : “Từ giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ cả mặt đất, mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng : “Êli, Êli, lêma xabácthani”, nghĩa là : “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con... Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.” (Mt 27,45-50)
Chúa Giêsu đã chết thật trên cây thánh giá, Ngài đi qua sự chết khổ nhục để phục sinh vinh quang, và từ đó sự chết không còn quyền gì trên Ngài nữa.
Chúa Giêsu đã chết trên cây thánh giá, các môn đệ thất vọng tán loạn, những người Pharisiêu và các kinh sư hớn hở vui mừng, và những người đạo đức thì đau buồn, người tội lỗi ăn năn sám hối. Cái chết của Chúa Giêsu là khơi nguồn sự sống cho những ai tin vào Ngài bắt đầu từ người lính dùng lưỡi đồng đâm cạnh nương long Chúa Giêsu đã chứng thực Ngài là Con Thiên Chúa (Ga 19,34-35), và viên đại đội trưởng đứng đối diện với Chúa Giêsu, khi thấy Ngài tắt thở liền nói : “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.” (Mc 15,39)
Chúa Giêsu đã chết để dụ ngôn hạt lúa mì của Ngài nói với các môn đệ biến thành sự thật nơi Ngài : “Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình ; còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.” (Ga 12,24) Ngài chính là hạt lúa từ trời xuống và được Cha gieo vào trần gian, để rồi chết đi bởi những thế lực của tội ác, và sống lại vinh quang để trở nên nguồn sống cho những kẻ tin vào Ngài.
Đức Mẹ Maria khi đối diện với sự thật này, Mẹ vẫn đứng vững vàng dưới chân thánh giá như một Kitô hữu tham dự thánh lễ đầu tiên của con mình trên thánh giá. Mẹ đã thực sự cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình cứu độ loài người, đã đồng công với Chúa Giêsu, không những chia sẻ những vui buồn với Ngài, mà còn chia sẻ con đường khổ giá của Ngài để đem ở cứu độ cho nhân loại.
“Chúa Giêsu chịu chết trên thánh giá” Giáo Hội kêu mời chúng ta đóng đinh tính xác thịt mình vào thánh giá với Chúa Giêsu, là con đường hẹp dẫn đưa chúng ta đến sự cứu rỗi đời đời.
Đóng đinh xác thịt mình vào thánh giá, đau lắm, khốn khổ lắm, nhưng Chúa Giêsu đã làm như thế để bày tỏ tình yêu thương của Ngài dành cho chúng ta. Giáo Hội kêu gọi chúng ta chia sẻ vào cuộc thương khó của Chúa Giêsu và sự chết của Ngài bằng những hy sinh nho nhỏ, bằng những đóng đinh thú vui dục vọng, thú vui ăn uống, thú vui thoả mãn tính tò mò, để chúng ta trở thành những hạt lúa được Chúa Giêsu gieo vào dòng đời thế gian, được trổ sinh nhiều hạt lúa tốt đẹp và trở nên bánh cho tha nhân hưởng dùng.
Mầu nhiệm năm sự Thương, quả là con đường hẹp dẫn đưa chúng ta đến sự sống đời đời với Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2011

NĂM SỰ SÁNG : Ngọn đèn dẫn đường cứu rỗi.


1. Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời.

Khởi đầu công khai sứ vụ rao giảng tin mừng của Nước Trời, Chúa Giê-su đã làm một việc rất khiêm tốn là xuống sông Gio-đan xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình. Đấng vô tội đã như một tội nhân đến giữa những anh chị em và để chia sẻ thân phận yếu hèn như mọi người, thánh sử Mát-thêu đã thuật lại như sau: “Bấy giờ Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình.” (Mt 3, 13)
Hai con người, hai nhân vật của lịch sử ơn cứu độ đang gặp nhau. Một người có tên là Gioan Tẩy Giả đang làm công việc dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến, và một người được Chúa Cha sai đến, là Đấng mà muôn dân trông đợi, người mà ông Gioan Tẩy Giả đang chuẩn bị cho mọi người dọn tâm hồn để đón tiếp Ngài, đó là Chúa Giê-su.
Phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả kêu gọi mọi người sám hối, tức là kêu gọi những tội nhân hãy quay trở về với Thiên Chúa, hãy làm lành tránh ác, và hãy sửa mọi ý nghĩ gian tà thành ý nghĩ thánh thiện. Và như lời tường thuật của thánh sử Mát-thêu: “Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. Bấy giờ, người ta từ Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng khắp vùng ven sông Gio-đan, kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan” (Mt 3, 4-7) Để được đón nhận sự tha thứ của Thiên Chúa, thì điều kiện trước tiên là phải thật lòng sám hối và thay đổi cuộc sống của mình.
Chúa Giê-su –Con Chiên Thiên Chúa, Đấng vô tội- cũng tự mình đi đến sông Gio-đan xin ông Gioan làm phép rửa, Ngài không nề hà thân phận cao quý của mình, Ngài cũng không bày tỏ mình là Đấng mà ông Gioan đang rao giảng và chuẩn bị tâm hồn mọi người chờ đón Ngài. Chính Ngài đã tự nguyện, như một tội nhân đến xin ông làm phép rửa, nhưng Thánh Thần đã soi mở tâm trí của ông Gioan, và ông đã nhận ra Đấng mà ông đang làm phép rửa chính là Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, và ông đã từ chối làm phép rửa cho Ngài, nhưng Chúa Giê-su đã nói: “Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính.” (Mt 3, 15) sự khiêm tốn giữa hai con người này chính là biểu hiệu của người được Thiên Chúa kêu gọi, bởi vì Thiên Chúa thường
“Hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư,
người giàu có lại đuổi về tay trắng.” (Lc 1, 52-53)
Chúa Giê-su, trong thân phận con người, khi chịu phép rửa bởi tay ông Gioan Tẩy Giả, Ngài đã thật sự trở nên đồng hình đồng dạng với chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Thế nhưng, dù thời giờ chưa đến, Chúa Cha vẫn cứ làm một dấu lạ để cho mọi người biết Ngài là Đấng từ trời xuống, bởi Cha mà đến, cả ba thánh sử đều có ghi chép lại giây phút quan trọng của lịch sử cứu độ này: “Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” (Mt 3, 16-17; Mc 1, 9-11; Lc 3, 21-22)
Tiếng Chúa Cha từ trời vang xuống như một chứng thực Chúa Giê-su là Đấng thiên sai mà loài người trông đợi, trong lời giới thiệu long trọng ấy, Thiên Chúa muốn chúng ta từ nay hãy vâng nghe lời giảng dạy của Chúa Giê-su, lời ban sự sống đời đời cho những kẻ tin vào Ngài.
Phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả hướng chúng ta đến bí tích Rửa Tội do Chúa Giê-su lập ra, nơi phép rửa của ông Gioan mời gọi con người sám hối, mà nơi bí tích Rửa Tội thì Chúa Giê-su thứ tha tội lỗi và trả lại cho chúng ta ơn làm con Thiên Chúa, mà do tội nguyên tổ đã đánh mất trong vườn địa đàng.
Mỗi người chúng ta khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội thì cả Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện và ngự trong tâm hồn của mình, đó chính là mầu nhiệm tình yêu cao cả mà Chúa Cha, nhờ sự chết và sống lại của Chúa Giê-su, và nhờ ân sủng thánh hoá của Chúa Thánh Thần đã ban cho chúng ta. Ân huệ cao cả này, tình thương cao cả này vượt qua trí thông minh sáng láng của các thiên thần, vượt qua tất cả sự thông minh của các nhà thông thái trên mặt đất gộp lại, và chỉ có những ai khiêm nhường –nhờ đức tin Chúa ban cho- mới nhận ra và hiểu được mà thôi.
Khi suy niệm mầu nhiệm này, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II mời gọi chúng ta –những người đã được lãnh nhận bí tích Rửa Tội- hãy luôn nhớ mình là những người con được Chúa yêu thương rất đặc biệt, được Máu Thánh Chúa Giê-su đổ ra để rửa sạch tội lỗi, được Thánh Thần xức dầu thánh hiến để trở nên đền thờ Thiên Chúa Ba Ngôi ngự, do đó mà chúng ta cũng phải luôn sống tâm tình khiêm tốn như thánh Gioan Tẩy Giả như khi ngài giảng dạy cho người Do Thái: “Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh ăn năn sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người.” (Mt 3, 11)
Chúa Giê-su chịu phép rửa nơi sông Gio-đan là Ngài mở một con đường sáng để cho chúng ta đi theo, con đường sáng ấy chính là thái độ khiêm tốn của Ngài khi xuống sông Gio-đan xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa. Và chỉ có thái độ và lòng khiêm tốn trong cuộc sống ấy mới có thể làm chúng ta đi trên con đường sáng để đến với Chúa và với tha nhân mà thôi.

2. Đức Chúa Giêsu làm phép lạ hoá nước thành rượu tại Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng Đức Chúa Trời
Tiệc cưới, là một ngày vui của đôi tân hôn, và là ngày hội vui vẻ của bà con thân thuộc bên họ nhà trai và nhà gái, tiệc cưới là dấu chỉ của yêu thương và hạnh phúc. Do đó, những người khách được mời tham dự tiệc cưới cần phải có tâm hồn yêu thương để chia sẻ hạnh phúc với đôi tân hôn.
Tiệc cưới Ca-na hôm nay, Đức Mẹ Maria được mời và Chúa Giê-su cùng các môn đệ của Ngài cũng được mời.
Qua câu chuyện tiệc cưới Ca-na này, chúng ta thấy vai trò của Đức Mẹ Maria rất quan trọng, Mẹ không những làm những việc của người nội trợ ở trong bếp, mà còn quan tâm đến những nhu cầu của người khác, nhất là quan tâm đến niềm vui của họ, sự quan tâm này được Phúc Âm của thánh Gioan tông đồ kể lại như thế này: “Khi thấy thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người: ”Họ hết rượu rồi”. Đức Giê-su đáp: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.” Thân mẫu Người nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” (Ga 2, 1-5) Khi nói: ”Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, thì Đức Mẹ Maria đã dạy cho chúng ta một bài học vâng lời và phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, chính Mẹ đã làm gương trước cho chúng ta, Mẹ đã phó thác đôi tân hôn cho Chúa khi xin Ngài làm cho niềm vui của họ được kéo dài, vì họ đã hết rượu, và Chúa Giê-su đã nhậm lời Mẹ xin.
Đức Mẹ Maria, Chúa Giê-su và các thánh tông đồ là một gia đình, một khối yêu thương bất khả phân ly trong mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa. Thật vậy, nơi tiệc cưới Ca-na này, sự liên kết hiệp nhất ấy càng nổi bật hơn khi có sự hiện diện của Chúa Giê-su và Mẹ Maria cũng như các tông đồ, và chúng ta có thể nói, đó là mô hình của Giáo Hội tương lai mà Chúa Giê-su sẽ thiết lập để đem ơn cứu độ đến cho nhân loại. Là người mẹ của Giáo Hội trong nhiệm thể Chúa Ki-tô, Mẹ Maria với tấm lòng mẹ hiền luôn cầu bàu cho Giáo Hội trước toà Thiên Chúa, và khi được Thiên Chúa đem lên trời cả hồn lẫn xác thì vai trò của Mẹ càng nổi bật hơn trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.
Khi suy ngắm đến việc Chúa Giê-su hiện diện trong tiệc cưới Ca-na, Giáo Hội muốn nhắn nhủ chúng ta những điều sau đây:
-Tha nhân là hình ảnh của Thiên Chúa, và trong Chúa Ki-tô tất cả chúng ta đều là anh em với nhau, họ chính là những Ki-tô khác mà chúng ta gặp hằng ngày trong cuộc sống, do đó mà chúng ta cần phải có những quan tâm cần thiết đến với họ.
-Con người ta, trước mặt Thiên Chúa đều bình đằng như nhau, cho nên cần phải lấy sự công bằng mà tiếp đãi nhau, như tiếp đãi Chúa Giê-su vậy.
-Noi gương Chúa Giê-su và Đức Mẹ Maria luôn cố gắng đem niềm vui đến cho mọi người.
Chính vì học theo gương Chúa Giê-su và Đức Mẹ Maria khi tham dự tiệc cưới Ca-na, mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô II mỗi khi đi thăm viếng mục vụ một quốc gia nào đó, thì việc trước tiên của Ngài làm khi bước xuống máy bay là hôn đất của quốc gia ấy, bày tỏ niềm vui sướng và tình thương mà ngài dành cho họ.

3. Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và ơn thống hối. Ta hãy xin cho được ơn cải sửa tâm hồn..

Trong Phúc Âm nhất lãm, các thánh sử đều nhắc đến 
việc Chúa Giê-su công khai sứ vụ rao giảng tin mừng Nước Trời của Ngài. Thánh Lu-ca, vị thánh sử viết Phúc Âm cho người ngoại đã trở lại, tường thuật lại như sau: “Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. Người giảng dạy trong các hội đường, và được mọi người tôn vinh.” (Lc 4, 14-15)
Thánh sử Mát-thêu chú trọng viết tin mừng cho người Do Thái vùng Xy-ri-a đã tin vào Chúa Giê-su thì kể rằng: ”Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gioan bị nộp, Người lánh qua miền Ga-li-lê. Rồi Người bỏ Na-da-rét, đến ở Ca-phác-na-um, một thành ven biển hồ Ga-li-lê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Máp-ta-li...Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu rao giảng và nói rằng: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần.” (Mt 4, 12-17).
Thánh sử Mác-cô viết Phúc Âm cho các tín hữu không phải là gốc Do Thái sống ngoài xứ Palestin kể lại như sau: “Sau khi ông Gioan bị nộp, Đức Giê-su đến miền Ga-li-lê rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa. Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1, 14-15)
Lời đầu tiên mà Chúa Giê-su rao giảng là kêu gọi mọi người hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, sám hối và tin vào Tin Mừng là điều kiện để được cứu rỗi, bởi vì không thể nào sám hối tội lỗi mình thì cũng không thể nào tin vào Tin Mừng, và chỉ nhờ Tin Mừng thì mới có thể nhìn thấy rõ đời sống của mình không phù hợp Phúc Âm để mà ăn năn sám hối.
Dân thành Ni-ni-vê đã nghe lời của tiên tri Giô-na và đã ăn năn sám hối, mặc áo nhặm rắc tro trên đầu, và Đức Chúa đã tha hình phạt cho họ. (Gn 3, 1-10), lòng sám hối chân thành của dân thành Ni-ni-vê đã đụng chạm đến nơi thẳm sâu tình yêu thương nhân từ của Thiên Chúa, bởi vì Ngài là Thiên Chúa thứ tha chứ không phải là Thiên Chúa chấp tội, là Thiên Chúa nhân từ chứ không phải là Thiên Chúa độc ác, là Thiên Chúa luôn quên hết tội lỗi khi con người thật lòng hoán cải quay về nẻo chính đường ngay.
Lòng sám hối và tin vào Đấng đang bị đóng đinh với mình trên thập giá kia của người trộm lành (Lc 23, 40-43), cũng là một dấu hiệu rất rõ ràng để cho chúng ta thấy rằng, lời rao giảng “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” của Chúa Giê-su, chính là hé mở hạnh phúc thiên đàng cho chúng ta có niềm hy vọng vào sự sống đời sau.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà khoa học phát triển từng ngày từng giờ, thế giới như thu nhỏ lại trong bàn tay, nhưng giữa tâm hồn con người với nhau vẫn cứ có khoảng xa cách vì ý thức hệ, vì thù hận và vì kiêu căng. Và khi con người càng sống dư thừa vật chất, xây dựng được một vài công trình to lớn thì càng trở thành những kẻ chối bỏ Thiên Chúa là Đấng tạo thành vũ trụ và tạo dựng nên con người. Do đó, lời rao giảng “hãy sám hối” của Chúa Giê-su vẫn còn vang dội cho đến ngày nay, đã và đang làm cho nhiều người hoán cải đời sống để trở nên những môn đệ thật sự của Chúa Giê-su Ki-tô.
Sám hối để được tha tội và tin vào Tin Mừng để được cứu rỗi, là hai điều căn bản phải có nơi những người môn đệ của Chúa Giê-su.

4. Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Ta hãy xin cho được luôn luôn lắng nghe lời Người.

Để củng cố đức tin cho các môn đệ, và để cho các ngài “nếm” trước mùi vị ngọt ngào của hạnh phúc trong Nước Trời, Chúa Giê-su đã biến hình sáng láng trên núi, thánh sử Mat-thêu đã tường thuật như sau: “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục của Người trắng tinh như anh nắng. (Mt 17, 1-2). Biến cố biến hình của Chúa Giê-su là một sự mở con mắt đức tin của ba môn đệ, để các ngài biết rằng, Đấng mà các ngài tin và đi theo đúng là vị tiên tri từ trời xuống. Nhưng điều làm cho các tông đồ ngạc nhiên sợ hãi chính là tiếng Chúa Cha phán ra từ đám mây: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các người hãy vâng nghe lời Người.” (Mt 17, 5b)
Tiếng từ trong đám mây là tiếng của Cha đang giới thiệu Con yêu quý của mình, là lời mạc khải về thiên tính của người Con duy nhất, và là lời chứng thực, chỉ có người Con này mới là Đấng từ trời xuống để thi hành thánh ý của Cha mà thôi.
Chúa Giê-su là Con yêu quý của Chúa Cha, chính Ngài –dù đang mang thân phận con người- vẫn là hình ảnh vô hình của Chúa Cha (Cl 1, 15) đang hiện diện ở trần gian, và chỉ có Ngài mới có đủ tư cách cứu nhân loại khỏi ách thống trị của ma quỷ và tội lỗi, chỉ có Ngài mới là Đấng ban lại cho nhân loại ơn làm con Thiên Chúa mà thôi.
Cuộc biến hình trên núi của Chúa Giê-su là một sứ điệp đức tin cho các môn đệ, những người chỉ tin mà chưa thấy, chỉ nghe mà chưa tường tận, giờ đây, qua cuộc biến hình sáng chói này của Chúa Giê-su và là Thầy của mình, đức tin của các ông như được tăng lên gấp bội.
Suy niệm đến việc Chúa Giê-su biến hình này với lời giới thiệu long trọng của Chúa Cha, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy bước theo Chúa Giê-su để tiếp tục sứ mạng mà Ngài đã giao phó trong ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa Tội, đó là sứ mạng rao giảng Tin Mừng Nước Trời cho mọi người; Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta khi bước theo Chúa Giê-su thì cố gắng liên tục–nhờ ơn Chúa- biến đổi cuộc sống của mình cho phù hợp với những gì mà mình đã tin và đã rao giảng. Đó chính là điều mà mọi người đang chờ đợi nơi chúng ta: những người –nhờ đức tin- mà thấy được niềm hy vọng nơi Chúa Giê-su.
Chúa Giê-su biến hình trên núi, là dịp để chúng ta suy ngắm lại sự sống đời sau của chúng ta, hơn là chúng ta chỉ sống trong ước mơ muốn được thấy Chúa biến hình như ba thánh tông đồ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gioan.
-Tôi đã thực sự thay đổi cuộc sống của mình chưa, thay đổi hoàn toàn mà không giữ lại những thói quen làm cho mình dễ chịu, nhưng sẽ làm hại linh hồn mình.
-Tôi đã thực sự tin vào Chúa Giê-su chưa, hay là vẫn còn hoài nghi về Ngài, khi mà cuộc sống của tôi chỉ toàn đau khổ mà không thấy vinh quang.
-Tôi đã nghe lời Chúa Cha giời thiệu Chúa Giê-su cho các môn đệ, có lúc nào tôi giới thiệu Chúa Giê-su cho bạn bè, người thân của tôi chưa?
Cuộc biến hình của Chúa Giê-su và lời giới thiệu của Chúa Cha là ngọn đèn dẫn nhân loại đến con đường cứu rỗi, mà chúng ta –người Ki-tô hữu- chính là những ngọn đèn ấy, lấy cuộc sống gương sáng của mình để chiếu soi Tin Mừng vào trong cuộc sống của tha nhân.

5. Đức Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể . Ta hãy xin cho được siêng năng rước Mình Máu Thánh Người.

Thánh Thể là nguồn sống của Giáo Hội, là lương thực nuôi sống mỗi người Ki-tô hữu. Thánh Thể là mầu nhiệm của sự hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu với nhau trong Chúa Ki-tô, bởi đó mà trong tông thư về bí tích Thánh Thể, Đức Giáo Hoàng Gioan Phao-lô đã nói: “Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể. Chân lý này không chỉ diễn tả một kinh nghiệm hằng ngày của đức tin, nhưng dưới hình thức tổng hợp nó còn gồm tóm cả cốt lõi của mầu nhiệm Giáo Hội. Trong hân hoan, Giáo Hội cảm nghiệm dưới nhiều hình thức sự thể hiện liên tục lời hứa: “Và Thầy, Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20).
Chúa Giê-su đã lập bí tích Thánh Thể để ban Mình và Máu Thánh của Ngài cho Giáo Hội, để Giáo Hội làm lương thực thần thiêng trên đường lữ thứ trần gian về quê trời. Bí tích Thánh Thể là bí tích cao trọng nhất của Giáo Hội, là dấu chỉ của hiệp thong và yêu thương, và có thể nói, nếu không có bí tích Thánh Thể thì không có Giáo Hội và không có Giáo Hội thì không có bí tích Thánh Thể. Chính Chúa Giê-su thấy rõ và tiên liệu trước cho Giáo Hội của Ngài ờ trần gian nên đã lập bí tích yêu thương này, để qua đó, mà Ngài tiếp tục ở lại với Giáo Hội cho đến ngày tận thế. Tông thư trên cũng đã lập lại lời của công đồng Vatican II: “Công đồng Vaticanô II đã chính thức công bố rằng Hy Tế Thánh Thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn thể đời sống Kitô hữu.”
Giáo Hội hơn hai ngàn năm lịch sử, đã và đang được tiếp tục nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, và từ nơi Thánh Thể, Giáo Hội càng ngày càng nhận ra được tình yêu thương của Chúa Giê-su dành cho Giáo Hội và nhân loại, cho nên, Giáo Hội càng thấy mình có thêm một một sứ mạng đặc biệt nữa là rao giảng sự hiệp nhất giữa các Ki-tô với nhau, và giữa những con người với nhau. Giáo Hội, giữa bao thăng trầm của thế giới, giữa bao đau thương mà Giáo Hội phải chịu, thì Thánh Thể chính là nguồn an ủi và là nguồn cảm hứng tràn đầy thánh dược để Giáo Hội tiếp nối tục làm tròn sứ mạng của mình giữa thế gian này.
Mỗi ngày trong thánh lễ, Giáo Hội lại hân hoan cử hành mầu nhiệm Thánh Thể, và Chúa Giê-su Ki-tô vẫn hằng ngày hiện diên trên các bàn thờ trên khắp thế giới, để luôn là niềm khích lệ và là nguồn sống của Giáo Hội và của mỗi người Ki-tô hữu, đó là mầu nhiệm khôn sánh mà nhân loại không thể nào hiểu thấu, nhưng con cái của Giáo Hội Chúa thì vẫn luôn yêu mến và thường xuyên năng đón nhận bí tích yêu thương này, bởi vì Thánh Thể là nguyên nhân của mọi tình yêu và bác ái của họ.
Khi suy ngắm đến mầu nhiệm tình yêu này, Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ, bởi vì trong thánh lễ, Chúa Giê-su hiện diện thực sự trên bàn thánh để trở nên lương thực nuôi sống linh hồn chúng ta, và trở nên nguồn mạch yêu thương nối kết lòng chúng ta lại với Thiên Chúa và với tha nhân.
Cho nên, Giáo Hội khuyên dạy chúng ta phải có thái độ cung kính, nghiêm trang và yêu mến khi đi tham dự thánh lễ, bởi vì có nhiều con cái của Giáo Hội ngày càng tục hoá các bí tích, coi các bí tích như là những việc làm vô ích mà Giáo Hội bày ra để “hù doạ” thiên hạ, và nguy hiểm hơn, họ coi Thánh Thể như là một trò đùa của Giáo Hội phỉnh gạt những người không hiểu biết. Có những lúc, chúng ta đi tham dự tiệc Thánh Thể bằng thái độ không nghiêm túc, đi rước lễ chỉ là hình thức che giấu tội lỗi của mình mà thôi. Đó chính là điều mà Chúa Giê-su rất đau buồn, bởi vì khi chúng ta rước Thánh Thể cách bất xứng là chúng ta lại đóng đinh Chúa Giê-su vào thập giá lần nữa, mà lần này thì Chúa đau khổ hơn khi Ngài bị đóng đinh trên thập giá trên đồi Can-vê, bởi vì những kẻ đóng đinh Ngài là chúng ta, những người được Ngài yêu thương và cứu chuộc bằng cái chết nhục nhả của mình. Từng giờ và từng phút, nơi nhà tạm trong nhà thờ, Chúa Giê-su Thánh Thể vẫn chờ đợi chúng ta đến viếng thăm an ủi Ngài, bởi vì từng giây từng phút có rất nhiều người xúc phạm đến Chúa Giê-su Thánh Thể trên khắp thế giới, đó là lý do mà Giáo Hội mời gọi chúng ta luôn viếng Thánh Thể và chầu Thánh Thể.
Ngay từ thời sơ khai của Giáo Hội, thánh Phao-lô tông đồ đã lên tiếng cảnh cáo những người tham dự Thánh Thể cách bất xứng, ngài nói: “Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa." (1 Cr 11, 27)